Học TậpLớp 11

Soạn bài Hai đứa trẻ

Hai đứa trẻ là một truyện ngắn xuất sắc của Thạch Lam. Tác phẩm được giới thiệu trong chương trình học môn Ngữ Văn lớp 11.

Điện Ảnh 24G sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 11: Hai đứa trẻ, mời bạn đọc tham khảo nội dung chi tiết được giới thiệu sau đây.

Soạn bài Hai đứa trẻ chi tiết

I. Tác giả

– Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi thành Nguyễn Tường Lân) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại.

– Ông là em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo, cả ba đều là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.

– Khi còn nhỏ, Thạch Lan sống ở quê là phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Sau đó ông theo cha chuyển sang tỉnh Thái Bình.

– Ông học ở Hà Nội, sau khi thi đỗ tú tài phần thứ nhất thì ra làm báo viết văn.

– Thạch Lam thường viết “những truyện không có chuyện”, chủ yếu là khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày.

– Văn của ông trong sáng, giản dị mà thâm trầm sâu lắng.

– Một số tác phẩm:

  • Truyện ngắn: Gió lạnh đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942)
  • Tiểu thuyết: Ngày mới (1939)
  • Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Truyện được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam.

2. Tóm tắt

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” xoay quanh số phận những con người nơi phố huyện nghèo qua lời kể của nhân vật Liên. Liên và An sống tại một phố huyện nghèo, được mẹ giao nhiệm vụ trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Trước đây gia đình Liên sống ở Hà Nội, nhưng bố bị mất việc nên phải chuyển về quê sống. Mẹ con chị Tí bán hàng nước , gánh phở của Bác Siêu, sập hát của bác Xẩm… đều là những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ nơi phố huyện nghèo. Liên cũng như bao người dân sống ở đây, ngày ngày họ đều trông ngóng để được ngắm chuyến tàu chạy qua phố huyện. Hình ảnh chuyến tàu ấy đi qua mang theo những âm thanh và ánh sáng gợi lên trong nhân vật Liên những ngày ở Hà Nội và những khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Xem thêm Tóm tắt truyện ngắn Hai đứa trẻ

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

  • Phần 1: Từ đầu đến “tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”. Cảnh phố huyện khi chiều xuống.
  • Phần 2. Tiếp theo đến “Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Cảnh phố huyện khi về đêm.
  • Phần 3. Còn lại. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cảnh phố huyện khi chiều xuống

a. Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện:

  • Điểm nhìn: Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên.
  • Âm thanh: Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.
  • Hình ảnh, màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
  • Đường nét: Dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.

=> Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế

b. Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện

– Cảnh chợ tàn:

  • Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất.
  • Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.

– Con người:

  • Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.
  • Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.
  • Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.
  • Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.
  • Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.

=> Sự nghèo đói bao trùm lên khu phố huyện nghèo.

c. Tâm trạng của Liên

  • Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ.
  • Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.
  • Thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng.
  • Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên

=> Một tâm hồn giàu lòng trắc ẩn, yêu thương con người.

2. Cảnh phố huyện khi về đêm

a. Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”

– Phố huyện ngập chìm trong bóng tối:

  • “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
  • “Tối hết con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.

=> Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.

– Ánh sáng chỉ còn leo lét ở một vài nơi:Đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đền hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đàn dây sáng xanh trong hiệu khách, ngọn đèn trong cửa hiệu của Liên…

=>Ánh sáng chỉ còn là khe sánh, quầng sáng, chấm lửa nhỏ, hột sáng…

=> Biểu tượng cho những kiếp người nhỏ bé sống leo lét, tàn lụi trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ.

b. Cuộc sống của những kiếp người nghèo khổ

– Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại:

  • Chị Tí dọn hàng nước.
  • Bác Siêu hàng phở thổi lửa.
  • Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”.
  • Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.

– Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Chị Tí “mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ vào hàng uống bát chè tươi và hút điếu thuốc lào”. Mơ ước: “Chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ”.

=> Dù cuộc sống quẩn quanh, bế tắc nhưng con người nơi vẫn không ngừng mơ ước về một tương lai đổi khác.

3. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện

– Lí do đợi tàu của Liên và An:

  • Để bán hàng theo lời mẹ dặn.
  • Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

– Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:

  • Liên trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”…
  • Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.

– Khi tàu đến:

  • Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.
  • Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.
  • Liên mơ về Hà Nội trong kí ức đầy ánh sáng.

– Khi tàu đi:

  • Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.
  • Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
  • Cả phố huyện bây giờ mới thật hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn.
  • Chị Tí sửa soạn chuẩn bị ra về, bác Siêu gánh hàng vào trong làng, vợ chồng bác xẩm ngủ trên manh chiếu từ bao giờ…
  • Tất cả chìm trong màn đêm với ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ đi vào giấc ngủ chập chờn của Liên.

=> Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ. Qua đó, Thạch Lam muốn thể hiện ước mơ thoát khỏi cuộc sống hiện tại, khao khát hướng tới một cuộc sống tươi sáng hơn, ý nghĩa hơn của những người dân nghèo.

Tổng kết: 

  • Nội dung: Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.
  • Nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, hình ảnh giàu tính biểu tượng, giọng văn nhẹ nhàng…

Soạn bài Hai đứa trẻ ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Cảnh vật trong truyện được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào?

  • Thời gian: chiều tà, thời điểm kết thúc của một ngày.
  • Không gian: phố huyện nghèo với những hình ảnh quen thuộc như tiếng trống thu không, dãy tre làng…

Câu 2. Thạch Lam miêu tả cuộc sống và hình ảnh những người dân phố huyện ra sao?

– Cảnh ngày tàn: tiếng trống, tiếng côn trùng, tiếng muỗi vo ve với bóng tối bắt đầu tràn ngập trong con mắt Liên.

– Cảnh chợ tàn: chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu; người về hết và tiếng ồn ào cũng mất; trên đất chỉ còn rác rưởi vỏ bưởi, lá nhãn và lá mía; mùi ẩm mốc quen thuộc…

– Hình ảnh người dân phố huyện:

  • Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.
  • Chị Tí mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước dưới gốc bàng; dọn hàng từ chập tối cho đến đêm “chả kiếm được bao nhiêu”. Thằng cu bé con chị Tí xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra trông thật tội nghiệp.
  • Bà cụ Thi hơi điên, cười khanh khách, ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch cút rượu, lảo đảo lần vào bóng tối.
  • Vợ chồng bác xẩm “tiếng đàn bầu bần bật”, “thằng con bò ra đất”…
  • Bác phở Siêu gánh hàng đi trong đêm, tiếng đòn gánh kĩu kịt, bóng bác mênh mang… Phở của bác là món quà xa xỉ mà chị em Liên không bao giờ mua được.

=> Con người nơi phố huyện sống lặng lẽ, nghèo khổ.

Câu 3. Phân tích tâm trạng Liên, An trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh đời sống phố huyện.

– Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ. Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.

– Liên cảm thấy cái “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” là “cái mùi riêng của đất, của quê hương này”.

– Liên lặng lẽ quan sát những gì đang diễn ra ở phố huyện với một cảm giác buồn mênh mang. Thương mấy đứa trẻ nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng…

Câu 4. Hình ảnh đoàn tàu trong truyện đã được miêu tả như thế nào? Vì sao chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua phố huyện?

– Tàu xuất hiện với những toa đèn sáng trưng, với “đèn ghi xanh biếc”, vơi “tiếng còi xe lửa”, làm khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếng hành khách khạc ồn ào khe khẽ và rồi nó xa dần rồi mất hút trong đêm tối mênh mông. Tàu được miêu tả chi tiết từ dấu hiệu đầu tiên cho đến khi tàu đến và khi tàu qua. Tàu là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm.

– Chị em Liên và An cố thức để đợi tàu vì:

  • Chuyến tàu sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
  • Chuyến tàu mang đến một thế giới khác lạ (ánh sáng xa lạ, các toa đèn sáng trưng, âm thanh náo nức, tiếng hành khách ồn ào…) đối lập với cuộc sống buồn tẻ của nơi phố huyện nghèo.
  • Chuyến tàu từ Hà Nội gợi nhớ về một tuổi thơ sung sướng của hai chị em: “Một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực và huyên náo”.

Câu 5. Anh chị có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam?

  • Thạch Lam đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc.
  • Miêu tả nội tâm tinh tế, sâu sắc.
  • Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Câu 6. Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?

Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

II. Luyện tập

Câu 1. Anh chị có ấn tượng sâu sắc nhất với nhân vật nào với chi tiết nghệ thuật nào trong truyện “Hai đứa trẻ”? Vì sao?

  • Nhân vật ấn tượng nhất là Liên. Đây là nhân vật được Thạch Lam xây dựng với những diễn biến tâm lí tinh tế, sâu sắc.
  • Chi tiết nghệ thuật ấn tượng nhất là hình ảnh đoàn tàu. Vì qua chi tiết này Thạch Lam đã gửi gắm được dụng ý nghệ thuật của mình.

Câu 2. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam qua truyện Hai đứa trẻ.

  • Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm
  • Nghệ thuật miêu tả đặc sắc: tả cảnh, tâm lí nhân vật.
  • Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.
  • Xây dựng những chi tiết, hình ảnh giàu tính biểu tượng…

Hai đứa trẻ là một truyện ngắn xuất sắc của Thạch Lam. Tác phẩm được giới thiệu trong chương trình học môn Ngữ Văn lớp 11.

Điện Ảnh 24G sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 11: Hai đứa trẻ, mời bạn đọc tham khảo nội dung chi tiết được giới thiệu sau đây.

Soạn bài Hai đứa trẻ chi tiết

I. Tác giả

– Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi thành Nguyễn Tường Lân) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại.

– Ông là em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo, cả ba đều là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.

– Khi còn nhỏ, Thạch Lan sống ở quê là phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Sau đó ông theo cha chuyển sang tỉnh Thái Bình.

– Ông học ở Hà Nội, sau khi thi đỗ tú tài phần thứ nhất thì ra làm báo viết văn.

– Thạch Lam thường viết “những truyện không có chuyện”, chủ yếu là khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày.

– Văn của ông trong sáng, giản dị mà thâm trầm sâu lắng.

– Một số tác phẩm:

  • Truyện ngắn: Gió lạnh đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942)
  • Tiểu thuyết: Ngày mới (1939)
  • Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Truyện được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam.

2. Tóm tắt

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” xoay quanh số phận những con người nơi phố huyện nghèo qua lời kể của nhân vật Liên. Liên và An sống tại một phố huyện nghèo, được mẹ giao nhiệm vụ trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Trước đây gia đình Liên sống ở Hà Nội, nhưng bố bị mất việc nên phải chuyển về quê sống. Mẹ con chị Tí bán hàng nước , gánh phở của Bác Siêu, sập hát của bác Xẩm… đều là những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ nơi phố huyện nghèo. Liên cũng như bao người dân sống ở đây, ngày ngày họ đều trông ngóng để được ngắm chuyến tàu chạy qua phố huyện. Hình ảnh chuyến tàu ấy đi qua mang theo những âm thanh và ánh sáng gợi lên trong nhân vật Liên những ngày ở Hà Nội và những khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Xem thêm Tóm tắt truyện ngắn Hai đứa trẻ

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

  • Phần 1: Từ đầu đến “tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”. Cảnh phố huyện khi chiều xuống.
  • Phần 2. Tiếp theo đến “Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Cảnh phố huyện khi về đêm.
  • Phần 3. Còn lại. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cảnh phố huyện khi chiều xuống

a. Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện:

  • Điểm nhìn: Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên.
  • Âm thanh: Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.
  • Hình ảnh, màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
  • Đường nét: Dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.

=> Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế

b. Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện

– Cảnh chợ tàn:

  • Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất.
  • Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.

– Con người:

  • Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.
  • Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.
  • Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.
  • Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.
  • Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.

=> Sự nghèo đói bao trùm lên khu phố huyện nghèo.

c. Tâm trạng của Liên

  • Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ.
  • Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.
  • Thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng.
  • Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên

=> Một tâm hồn giàu lòng trắc ẩn, yêu thương con người.

2. Cảnh phố huyện khi về đêm

a. Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”

– Phố huyện ngập chìm trong bóng tối:

  • “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
  • “Tối hết con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.

=> Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.

– Ánh sáng chỉ còn leo lét ở một vài nơi:Đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đền hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đàn dây sáng xanh trong hiệu khách, ngọn đèn trong cửa hiệu của Liên…

=>Ánh sáng chỉ còn là khe sánh, quầng sáng, chấm lửa nhỏ, hột sáng…

=> Biểu tượng cho những kiếp người nhỏ bé sống leo lét, tàn lụi trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ.

b. Cuộc sống của những kiếp người nghèo khổ

– Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại:

  • Chị Tí dọn hàng nước.
  • Bác Siêu hàng phở thổi lửa.
  • Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”.
  • Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.

– Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Chị Tí “mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ vào hàng uống bát chè tươi và hút điếu thuốc lào”. Mơ ước: “Chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ”.

=> Dù cuộc sống quẩn quanh, bế tắc nhưng con người nơi vẫn không ngừng mơ ước về một tương lai đổi khác.

3. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện

– Lí do đợi tàu của Liên và An:

  • Để bán hàng theo lời mẹ dặn.
  • Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

– Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:

  • Liên trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”…
  • Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.

– Khi tàu đến:

  • Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.
  • Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.
  • Liên mơ về Hà Nội trong kí ức đầy ánh sáng.

– Khi tàu đi:

  • Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.
  • Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
  • Cả phố huyện bây giờ mới thật hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn.
  • Chị Tí sửa soạn chuẩn bị ra về, bác Siêu gánh hàng vào trong làng, vợ chồng bác xẩm ngủ trên manh chiếu từ bao giờ…
  • Tất cả chìm trong màn đêm với ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ đi vào giấc ngủ chập chờn của Liên.

=> Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ. Qua đó, Thạch Lam muốn thể hiện ước mơ thoát khỏi cuộc sống hiện tại, khao khát hướng tới một cuộc sống tươi sáng hơn, ý nghĩa hơn của những người dân nghèo.

Tổng kết: 

  • Nội dung: Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.
  • Nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, hình ảnh giàu tính biểu tượng, giọng văn nhẹ nhàng…

Soạn bài Hai đứa trẻ ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Cảnh vật trong truyện được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào?

  • Thời gian: chiều tà, thời điểm kết thúc của một ngày.
  • Không gian: phố huyện nghèo với những hình ảnh quen thuộc như tiếng trống thu không, dãy tre làng…

Câu 2. Thạch Lam miêu tả cuộc sống và hình ảnh những người dân phố huyện ra sao?

– Cảnh ngày tàn: tiếng trống, tiếng côn trùng, tiếng muỗi vo ve với bóng tối bắt đầu tràn ngập trong con mắt Liên.

– Cảnh chợ tàn: chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu; người về hết và tiếng ồn ào cũng mất; trên đất chỉ còn rác rưởi vỏ bưởi, lá nhãn và lá mía; mùi ẩm mốc quen thuộc…

– Hình ảnh người dân phố huyện:

  • Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.
  • Chị Tí mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước dưới gốc bàng; dọn hàng từ chập tối cho đến đêm “chả kiếm được bao nhiêu”. Thằng cu bé con chị Tí xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra trông thật tội nghiệp.
  • Bà cụ Thi hơi điên, cười khanh khách, ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch cút rượu, lảo đảo lần vào bóng tối.
  • Vợ chồng bác xẩm “tiếng đàn bầu bần bật”, “thằng con bò ra đất”…
  • Bác phở Siêu gánh hàng đi trong đêm, tiếng đòn gánh kĩu kịt, bóng bác mênh mang… Phở của bác là món quà xa xỉ mà chị em Liên không bao giờ mua được.

=> Con người nơi phố huyện sống lặng lẽ, nghèo khổ.

Câu 3. Phân tích tâm trạng Liên, An trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh đời sống phố huyện.

– Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ. Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.

– Liên cảm thấy cái “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” là “cái mùi riêng của đất, của quê hương này”.

– Liên lặng lẽ quan sát những gì đang diễn ra ở phố huyện với một cảm giác buồn mênh mang. Thương mấy đứa trẻ nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng…

Câu 4. Hình ảnh đoàn tàu trong truyện đã được miêu tả như thế nào? Vì sao chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua phố huyện?

– Tàu xuất hiện với những toa đèn sáng trưng, với “đèn ghi xanh biếc”, vơi “tiếng còi xe lửa”, làm khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếng hành khách khạc ồn ào khe khẽ và rồi nó xa dần rồi mất hút trong đêm tối mênh mông. Tàu được miêu tả chi tiết từ dấu hiệu đầu tiên cho đến khi tàu đến và khi tàu qua. Tàu là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm.

– Chị em Liên và An cố thức để đợi tàu vì:

  • Chuyến tàu sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
  • Chuyến tàu mang đến một thế giới khác lạ (ánh sáng xa lạ, các toa đèn sáng trưng, âm thanh náo nức, tiếng hành khách ồn ào…) đối lập với cuộc sống buồn tẻ của nơi phố huyện nghèo.
  • Chuyến tàu từ Hà Nội gợi nhớ về một tuổi thơ sung sướng của hai chị em: “Một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực và huyên náo”.

Câu 5. Anh chị có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam?

  • Thạch Lam đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc.
  • Miêu tả nội tâm tinh tế, sâu sắc.
  • Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Câu 6. Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?

Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

II. Luyện tập

Câu 1. Anh chị có ấn tượng sâu sắc nhất với nhân vật nào với chi tiết nghệ thuật nào trong truyện “Hai đứa trẻ”? Vì sao?

  • Nhân vật ấn tượng nhất là Liên. Đây là nhân vật được Thạch Lam xây dựng với những diễn biến tâm lí tinh tế, sâu sắc.
  • Chi tiết nghệ thuật ấn tượng nhất là hình ảnh đoàn tàu. Vì qua chi tiết này Thạch Lam đã gửi gắm được dụng ý nghệ thuật của mình.

Câu 2. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam qua truyện Hai đứa trẻ.

  • Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm
  • Nghệ thuật miêu tả đặc sắc: tả cảnh, tâm lí nhân vật.
  • Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.
  • Xây dựng những chi tiết, hình ảnh giàu tính biểu tượng…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button