Là Ai

Michael Burry là ai? Nhà bán khống tài năng "The Big Short"

Michael Burry là một hiện tượng đặc biệt trong thế giới quản lý quỹ. Ông không hề được học tập về tài chính và chứng khoán, xuất thân từ ngành y, nhưng Michael lại đạt được thành công cực lớn khi theo đuổi đam mê đầu tư chứng khoán. Từ một bác sĩ thực tập đang nợ ngân hàng $145.000, Michael đã trở thành người quản lý hàng trăm triệu đô và sau đó là một trong những người đầu tiên dự đoán và kiếm được lợi nhuận cực lớn từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ. Cuộc đời và sự nghiệp của ông có nhiều điểm cực kỳ thú vị. Trong bài viết này hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.

Michael Burry là ai?

Michael J. Burry là một bác sĩ, nhà đầu tư và quản lý quỹ đầu cơ người Mỹ. Ông là người sáng lập quỹ đầu cơ Scion Capital – công ty mà ông đã điều hành từ năm 2000 đến 2008 trước khi đóng cửa để tập trung vào các khoản đầu tư cá nhân của riêng mình.

Michael Burry trở nên nổi tiếng sau khi đặt cược chống lại các khoản vay thế chấp đã được chứng khoán hóa trước khủng hoảng 2008. Ông chính là hình mẫu trong cuốn sách nổi tiếng “The Big Short” của tác giả Michael Lewis. Cuốn sách này cũng đã được chuyển thể thành bộ phim được giải Oscar.

Đam mê đầu tư chứng khoán

Michael Burry biết đến chứng khoán từ nhỏ khi ba ông nói về thị trường chứng khoán và cho rằng “thị trường chứng khoán là một nơi nguy hiểm và không thể tin tưởng được”. Tuy vậy Michael tỏ ra thích thú và duy trì việc nghiên cứu về chứng khoán trong suốt thời kỳ trung học và đại học. Mặc dù để ý tới chứng khoán nhưng Michael lại quyết định theo học trường y Vanderbilt – một trong những trường về y tốt nhất của nước Mỹ. Theo sách “The Big Short” thì Michael theo học ngành y vì cảm thấy mình muốn giúp đỡ mọi người và ngành y cũng không quá khó. Có điều càng học chuyên sâu vào ngành y, Michael lại càng thấy đam mê chứng khoán nhiều hơn. Mẫu thuẫn giữa đam mê và nghề nghiệp của anh lên tới đỉnh điểm vào năm 2000 khi anh đang là bác sỹ nội trú tại bệnh viện Stanford, cuối cùng ông đã quyết định bỏ ngành y để đi theo đam mê thực sự của mình.

Như rất nhiều người tìm hiểu về chứng khoán, Michael tìm đến với phân tích kỹ thuật. Có lẽ phân tích kỹ thuật tương đối phổ biến và nếu chúng ta tìm hiểu thông tin về chứng khoán từ sách báo và internet thì dễ đi theo con đường phân tích kỹ thuật. Michael thừa nhận rằng mình đã đọc khá nhiều sách về phân tích kỹ thuật và ứng dụng nó để trading equity, future và cả commodity. Michael từng nói rằng phân tích kỹ thuật thực sự hoạt động, có thể dự đoán được index nhưng vấn đề là nó cũng có những lúc sai và khi sai thì không có biên độ an toàn nào cả. Do đó chỉ một vài lần thua là bay hết thành quả tích cóp. Ngoài ra, theo Michael, phân tích kỹ thuật tốn quá nhiều thời gian – đây là một trong những lý do để tìm đến đầu tư giá trị khi ông biết rằng mình sẽ có rất ít thời gian cho chứng khoán khi theo học ngành y.

Khi dấn thân theo đầu tư giá trị, Michael tìm cách kết hợp cả đầu tư giá trị và phân tích kỹ thuật. Đây là một điểm Michael rất khác biệt với các nhà đầu tư giá trị khác. Có lẽ Michael không muốn lãng phí những kiến thức mà mình đã học về phân tích kỹ thuật, cũng có thể ông muốn quên đi nhưng không quên được. Cho tới những năm 2000 – 2001, Michael vẫn theo đuổi cách kết hợp này. Ví dụ để xác định thời điểm mua cho các cổ phiếu giá trị, ông thích mua khi giá cổ phiếu đó đã giảm từ 10 – 15% so mức thấp nhất trong 52 tuần trước đó. Ông cho rằng tại mức này thì cổ phiếu có sự hỗ trợ về giá. Ngoài ra, nếu cổ phiếu phá ngưỡng giá thấp nhất, Michael sẵn sàng cut loss trừ khi cổ phiếu này có yếu tố support cực tốt từ phân tích cơ bản. Không rõ sau năm 2001 Michael còn áp dụng phân tích kỹ thuật nữa hay không nhưng tôi cảm giác rằng càng đi sâu về đầu tư giá trị, ông lại càng bỏ đi nhiều hơn các kiến thức phân tích kỹ thuật.

Michael đặt bước chân đầu tiên vào cộng đồng đầu tư vào năm 1996 (25 tuổi) khi ông tham gia diễn đàn dienanh24g.vn (giờ là dienanh24g.vn). Theo sách “The Big Short” thì Michael đã vào diễn đàn này bằng một máy tính tại bệnh viện Saint Thomas, ở Nashville, bang Tennessee khi ông đang trực tối tại đây. Trên diễn đàn này, ông đã tạo một box về đầu tư giá trị và yêu cầu mọi người không được nói về phân tích kỹ thuật. Mặc dù thời điểm này, nước Mỹ đang phát cuồng với cổ phiếu Internet, vẫn có không ít người vào box của Michael để trao đổi về đầu tư. Rất nhiều người trong số đó là những nhà đầu tư kinh nghiệm và họ phản biện lại các phân tích của ông. Không ít người chế giễu liệu một bác sỹ thì biết gì mà nói về đầu tư về cổ phiếu (ông thường ký tên là Dr Mike). Trải qua thời gian, Michael học hỏi và không ngừng tiến bộ, ông dần dà thống lĩnh các cuộc thảo luận. Các ý tưởng của Mike cũng tỏ ra hiệu quả và nhiều người bắt đầu kiếm được tiền từ các bài viết và phân tích của ông. Ngoài việc tham gia diễn đàn, Michael còn tạo một một trang web riêng cho mình để ông có thể viết và trao đổi với những người có nhiều kinh nghiệm về đầu tư giá trị. Tên tuổi của Michael bắt đầu được chú ý và chuyên trang về tài chính của Microsoft mời ông về viết bài vào năm 2000.

Biến đam mê thành công việc

Năm 2000 Michael đang ở tuổi 29, ông quyết định bỏ ngành y để toàn tâm toàn ý theo đuổi đam mê của mình là đầu tư chứng khoán. Khi Michael thông báo quyết định của mình, các bạn học và thầy cô cho rằng ông mất trí khi chỉ còn một năm nữa là kết thúc việc học hành và một tương lai tươi sáng của nghề bác sỹ đang chờ đợi phía trước. Bác sĩ Trưởng Khoa Thần kinh – chuyên ngành của Michael tại bệnh viện Stanford thuyết phục ông hãy suy nghĩ thật chín chắn trước khi quyết định. Bản thân Michael thì biết rằng ông đã đủ chín chắn rồi và ông thấy mọi việc là tự nhiên và rất rõ ràng. Michael biết nếu có thể đầu tư tốt thì ông sẽ thành công trong cuộc sống.

Tuy vậy thử thách với Michael là không hề nhỏ, để có tiền theo học Michael đã phải vay nợ $145K. Tất cả tài sản của ông có là khoảng $40K đang được dùng đầu tư cổ phiếu. Michael quyết định chuyền về ở cùng gia đình để tiết kiệm chi phí. Cũng trong năm 2000, bố của Michael mất và một phần là do lỗi của bệnh viện. Mẹ Michael được bệnh viện đền bù một khoản tiền và bà đã dùng một phần số tiền này để giúp đỡ Michael lập nghiệp. Các anh chị em của Michael mỗi người cũng tham gia khoảng $10K cho quĩ đầu tư của ông. Michael thành lập quỹ với tên gọi Scion Capital dựa theo một cuốn sách mà thích từ lúc còn bé. Có lẽ tổng số tiền Michael quản lý lúc đầu chưa tới $100K và vẫn đang nợ $145K. Michael bắt đầu quảng bá về quĩ đầu tư của mình qua Internet. Nhiều nhà đầu tư cá nhân bắt đầu tìm đến quỹ Scion Capital, đa phần đây là những người đến từ diễn đàn Techstock và trang web cá nhân của Michael. Tuy vậy, mọi việc có lẽ vẫn khá khó khăn với Michael vì ông không thu phí theo công thức 2% tài sản và 20% profit như các quĩ thông thường mà chỉ thu khoảng 25% profit của Scion Capital. Đây có lẽ cũng là một trong những lý do mà Michael đồng ý viết bài cho chuyên trang tài chính của Microsoft vào năm 2000 để có thêm thu nhập.

Mọi việc bắt đầu thay đổi từ một cuộc điện thoại. Quỹ đầu tư Gotham Capital của nhà đầu tư nổi tiếng Joel Greenblatt gọi và nói rằng họ đã đọc các bài viết của ông và kiếm được tiền từ các ý tưởng ấy. Giờ đây quỹ Gotham mong muốn đầu tư vào quỹ Scion của Mike Burry. Đích thân Joel Greenblatt cũng gọi và nói rằng ông đã luôn chờ đợi ngày mà Michael bỏ ngành y đề trở thành money manager. Gotham thu xếp để Michael Burry bay tới trụ sở của công ty tại New York để ký hợp đồng. Cuộc nói chuyện giữa hai bên diễn ra đại loại thế này:

Chúng tôi mong muốn đưa cho cậu một triệu đô.

Xin lỗi. Ngài nói gì cơ?

Chúng tôi muốn mua 25% cổ phần trong công ty quản lý quỹ đầu tư của cậu với mức giá 1 triệu đô.

Ngài nói thật chứ?

Đúng vậy, chúng tôi sẽ đưa một triệu đô, sau thuế.

Choáng váng, Michael chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại đáng giá cả triệu đô, sau thuế. Tại thời điểm đó Michael từ một người có tài sản là âm $105K đã trở thành một triệu phú với một món nợ nhỏ.

Mọi việc vẫn chưa dừng lại, Michael nhanh chóng nhận được một cuộc điện thoại khác. Công ty bảo hiểm White Mountains gọi điện và nói “Chúng tôi không biết rằng cậu đang bán một phần công ty quản lý quỹ của mình”. Michael giải thích rằng ông cũng chỉ biết điều ấy vài ngày trước mà thôi khi mà Gotham đưa cho ông 1 triệu đô – sau thuế. Hóa ra White Mountains cũng đã theo dõi sát sao Mike Burry, họ quyết định mua một phần công ty quản lý quỹ của Michael với giá $600K và tham gia thêm 10 triệu đô vào quỹ Scion Capital. Với số vốn đầu tư nhanh chóng tăng lên Michael đã không cần phải viết bài trên MSN Moneycentral để kiếm thêm thu nhập nữa.

Nếu tôi nhớ không nhầm, ngoài 1 triệu đô la mua cổ phần, Gotham Capital còn tham gia 15 triệu đô vào Scion Capital. Joel Greenblatt nói rằng đây là lần đầu tiên ông làm việc này, ông nói “Michael là một người thực sự xuất sắc và không có nhiều người như vậy”. Bản thân Joel Greenblatt cũng khởi nghiệp với 7 triệu đô la ban đầu của ông vua junk-bond Michael Milken, có lẽ do vậy nên Joel sẵn sàng đỡ đầu cho một người trẻ tuổi khác là Michael.

Chúng ta cần biết rằng Michael nghiên cứu và phân tích chứng khoán khi đang theo học ngành y, một ngành đòi hỏi sự tập trung 110% sức lực. Michael chủ yếu thực hiện các phân tích của mình trong khoảng thời gian từ 12h đêm tới 3h sáng. Có lần do quá mệt mỏi vì thức đêm liên tục Michael đã ngủ gật trong một ca phẫu thuật và đổ gục vào túi thở oxy của bệnh nhân. Ông trưởng ca phẫu thuật vô cùng giận giữ lập tức tổng cổ Michael ra ngoài. Gotham Capital và White Mountains cho rằng những điều mà chúng ta thấy mới chỉ là Michael từ 12h đêm tới 3h sáng mà thôi. Hãy tưởng tượng nếu Michael có toàn thời gian để nghiên cứu đầu tư cổ phiếu thì mọi việc sẽ thế nào?

Không cần quá lâu để chúng ta biết kết quả thế nào. Michael đã nhanh chóng chứng tỏ khả năng của mình và làm cho các nhà đầu tư của Scion Capital cực kỳ hài lòng. Trong năm đủ đầu tiên kể từ lúc thành lập, 2001, quỹ Scion tăng 55.4% trong khi chỉ số S&P giảm 11.8%. Sang năm 2002, bong bóng dot com tại Mỹ tiếp tục vỡ và chỉ số S&P giảm tiếp 22.1%, quỹ Scion Capital tăng 16%. Qua năm 2003, chỉ số S&P bặt tăng mạnh 28.7% nhưng Michael tiếp tục đánh bại thị trường với mức tăng trưởng 50.7%.

michael burry la ai nha ban khong tai nang the big short

Với thành công vang dội, tới cuối năm 2004, Michael đã quản lý số tiền lên tới 600 triệu đô và ông quyết định không nhận thêm tiền nữa. Michael vẫn luôn chú trọng tới lợi nhuận của các nhà đầu tư chứ không phải tìm cách thu phí của họ. Mặc dù vậy, 600 triệu đô vẫn là một số vốn rất lớn nên trong 2 năm 2004 và 2005, kết quả của quỹ Scion không xuất sắc như trước mà chỉ có mức tăng tương đương hoặc hơn thị trường một chút . Tôi đoán là với số vốn lớn như vậy thì ý tưởng đầu tư tuyệt vời trở nên khan hiếm hơn. Tuy nhiên đây có lẽ chưa phải là nguyên nhân chính. Theo sách “The Big Short” thì 2004 cũng là năm Michael bắt đầu dành thời gian nghiên cứu về thị trường trái phiếu và lần ra những dấu vết đầu tiên của một cuộc đại khủng hoảng.

Để phần nào hiểu về thành công của Michael khi picking stocks cũng như khả năng dự đoán về cuộc khủng hoảng thì chúng ta phải hiểu kỹ hơn về Michael. Michael dành rất nhiều thời gian cho việc đầu tư và ông làm việc với một sự tập trung cao độ. Có một số nguyên nhân lý giải cho khả năng này của Michael.

Từ bé, Michael đã phải phẫu thuật cắt bỏ một mắt vì căn bệnh ung thư hiếm gặp và mắt bên trái của ông mà chúng ta nhìn thấy chỉ là mắt giả mà thôi. Điều này khiến cho Michael Burry gắp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội. Khi tham gia các trò thể thao chiếc mắt giả của Michael thường bật ra ngoài khi ông va chạm mạnh. Michael quyết định không tham gia các trò chơi tập thể và chỉ thích môn bơi vì ông có thể ở một mình. Michael gần như không có bạn trong suốt quá trình đi học và sau này những người bạn của ông cũng chỉ là quen biết qua Internet. Khi tham gia một cộng đồng nào đó, Michael thường đặt mình ra ngoài và ngồi phân tích mọi người. Trong một buổi phỏng vấn trên 60 minutes, ông gọi mình là Outsiders. Không giao tiếp xã hội giúp Michael có nhiều thời gian hơn. Điều này lý giải vì sao mặc dù học ngành y nhưng Michael vẫn có thời gian nghiên cứu cổ phiếu.

Michael có khả năng tập trung làm việc một cách phi thường. Trong một dịp, Michael đã thức thông hai đêm liền (ông phải trực vào ban ngày) xoay sở với các thiết bị chỉ để tìm cách làm cho chiếc máy tính cá nhân của mình chạy nhanh hơn. Michael tập trung nghiên cứu đầu tư chứng khoán tới mức người vợ đầu tiên của ông nghi ngờ không biết cô có tồn tại trong cuộc sống của Michael hay không. Họ ly dị không lâu sau khi cưới. Ở lần lập gia đình thứ hai, có lẽ do đã có kinh nghiệm nên Michael không để công việc làm mất đi người vợ của mình. Một điểm thú vị là người vợ thứ hai của ông là một người Mỹ gốc Việt. Không có gì ngạc nhiên khi họ quen nhau là nhờ một trang web hẹn hò trên Internet.

Xu hướng thích cô độc và khả năng tập trung làm việc một cách điên rồ của Michael được giải thích một cách toàn vẹn khi tình cờ ông phát hiện ra rằng mình bị mắc hội chứng Asperger – tiếng việt là hội chứng tự kỷ. Một thông tin thú vị là các nghiên cứu của đại học Cambridge và Oxford cho rằng các thiên tài như Einstein và Newton cũng bị mắc hội chứng này. Theo tôi nhớ thì Adam Smith cũng thích cô độc và ông khép mình trong phòng kín để viết nên tác phẩm kinh điển “The wealth of nations”. Còn nhớ Steve Jobs chỉ mặc quần bò và áo phông đen vì ông muốn tiết kiệm thời gian, đỡ phải nghĩ là mình sẽ mặc gì hôm nay. Warren Buffett thì đọc “Security Analysis” trong khi đang đi nghỉ tuần trăng mật với vợ. Có lẽ công thức cho những điều phi thường là trí tuệ + sự tập trung cao độ + lượng thời gian dành cho công việc. Với trường hợp của Michael, sản phẩm ra lò là một nhà đầu tư cực kỳ thành công trong đó đỉnh điểm là việc dự đoán cuộc đại khủng.

Theo dấu đại khủng hoảng và tìm kiếm lợi nhuận

Sách “The Big Short” nói Michael bắt đầu tìm hiểu về thị trường vay nợ thế chấp vào năm 2004 nhưng ý niệm về bong bóng bất động sản có lẽ đến với Michael từ năm 1999 khi ông chứng kiến sự tăng giá của nhà đất tại California. Trong những năm 2000-2001 Michael cũng hiểu rõ hơn về ngành bất động sản khi ông nghiên cứu đầu tư các cổ phiếu của ngành này từ các công ty xây dưng tới các định chế cho vay thế chấp. Thực ra vào thời điểm 2004, có một số nhà đầu tư giá trị cũng có suy nghĩ về bóng bóng nhà đất tại Mỹ nhưng họ không dành nhiều thời gian cho việc này mà tập trung vào việc picking stocks như thường lệ. Michael trái lại tỏ ra rất thích thú nghiên cứu về chủ đề này. Năm 2004, Michael có một sở thích mới là học hỏi về hệ thống vay và cho vay của Mỹ. Michael tìm hiểu về các khoản vay được thực hiện như thế nào từ vay tiền mua ô tô, vay tiền đi học tới vay tiền để mua nhà. Sau đó ông lại tìm hiểu về quá trình chứng khoán hóa các khoản vay này rồi tiếp theo là chứng khoán phái sinh từ các chứng khoán này. Michael không hề nói với bất kỳ ai về sở thích mới này của ông, ông chỉ ngồi một mình trong văn phòng đọc hàng ngàn tài liệu về thị trường chứng khoán phái sinh từ các khoản vay.

Hình mình họa dưới đây thể hiện quá trình chứng khoán hóa các khoản vay nợ thế nào.

michael burry la ai nha ban khong tai nang the big short

Michael nghiên cứu và thấy rằng các tiêu chuẩn cho vay ngày càng trở nên dễ dàng. Những người đi vay nhà thậm chí không phải bỏ vốn, họ được vay 100% số tiền để mua nhà. Vì sao lại có hiện tượng này? Những người đi vay thì rất dễ hiểu. Họ thấy giá nhà tăng lên trong khi có thể vay 100% để mua nhà thì chẳng khác nào đánh bạc mà không cần vốn; thắng thì ăn mà thua thì kẻ cho vay sẽ chịu. Vấn đề là tại sao người đi cho vay lại hành động như vây? Đó vì những định chế cho vay thế chấp này lại bán lại các khoản vay cho các ngân hàng đầu tư (IB), các IB chứng khoán hóa các khoản vay, chuyển qua các tổ chức định giá(Moody’s, etc) đóng dấu kiểm định rồi bán tiếp ra thị trường. Thị trường hấp thụ hết các loại chứng khoán này vì lãi suất của chúng hấp dẫn hơn nhiều so với mức lãi thấp suất thấp mà FED đang duy trì. Giá nhà tiếp tục tăng thì tất cả mọi người đều hạnh phúc. Càng có nhiều khoản vay thì các định chế cho vay, các ngân hàng đầu tư và các tổ chức định giá lại càng thu được nhiều phí giao dịch. Phía người mua cuối cùng là những người quản lý các quỹ đầu tư vào các sản phẩm trái phiếu, các CDO manager. Họ được các nhà đầu tư ủy thác để đầu tư và các sản phẩm đóng dấu an toàn (AAA, etc) từ các tổ chức định giá. Những người quản lý này được trả tiền theo phần trăm số tài sản mà họ quản lý nên họ thường dành thời gian gia tăng số tài sản này chứ không đi xem xét những thứ được đóng dấu AAA có thực sự an toàn hay không. Lợi ích của họ và của các nhà đầu tư vào quỹ của họ là khác nhau.

Trái lại, lợi ích của Michael và các nhà đầu tư của mình đồng hành cùng nhau. Michael nghiên cứu và thấy rằng chỉ cần giá nhà đất dừng tăng chứ chưa cần giảm thì cũng đủ khiến cho nhiều CDO mất giá. Nếu giá nhà đất giảm vài phần trăm thì có thể gây ra sự đổ vỡ dây chuyền hàng loạt và các sản phẩm phái sinh CDO sẽ trở thành vô giá trị. Michael muốn short các CDO này. Tuy nhiên hoàn toàn không có thị trường cho việc short các CDO, hơn nữa khi short thì rủi ro cũng rất nhiều vì giá nhà đất có thể tiếp tục tăng tới mức vượt quá khả năng chịu đựng của quỹ Scion trước khi sụp đổ. Trong khi chưa biết làm thế nào, Michael tình cờ đọc về quá trình hình thành CDS cho các khoản vay của các công ty với các ngân hàng. Liên kết các thông tin, Michael nghĩ ra ý tưởng CDS cho CDO. CDS hoạt động như một dạng bảo hiểm, ví dụ hàng năm Michael sẽ trả 2 triệu mua bảo hiểm để khi CDO mất hoàn toàn giá trị thì ông sẽ được bồi thường 100 triệu. Với đặc tính này thì Michael có thể chủ động kiểm soát được rủi ro trong trường hợp CDO tiếp tục tăng giá. Ngoài ra, thông thường chỉ cần rủi ro với các CDO tăng lên thì giá trị của CDS cũng sẽ tăng. Michael gọi tới 7 ngân hàng lớn mà ông cho rằng sẽ ít chịu ảnh hưởng nhất từ khủng hoảng là Goldman Sachs, Morgan Stanley, Deutsche Bank, Bank of America, UBS, Merrill Lynch, và Citigroup. 5 ngân hàng không hiểu Michael đang nói về cái gì, chỉ có 2 ngân hàng Goldman Sachs và Deutsche Bank đồng ý thực hiện giao dịch và nói rằng mặc dù thị trường này chưa tồn tại, nó có thể xuất hiện vào một ngày nào đó. Họ không ngờ rằng chỉ sau vài năm thị trường này đã có giá trị lên tới hàng ngàn tỷ đô la.

Michael thực hiện thương vụ CDS đầu tiên của mình vào ngày 19-05-2005 với ngân hàng Deutsche Bank. Michael mua 60 triệu đô la chia đều cho 6 CDS. Michael đã nghiên cứu chi tiết từng CDO để tìm ra CDO nào sẽ dễ bị mất giá nhất trong khoảng thời gian sớm nhất. Tuy nhiên Michael vô cùng ngạc nhiên khi phía Investment Bank(IB) gửi offer price cho ông về các CDS. Lý do là vì IB đưa ra mức giá chung cho các CDS của các CDO có cùng rating. Điều này chẳng khác nào nói rằng thị trường CK VN xếp hạng chung là thị trường cận biên, do đó bạn có thể mua các cổ phiếu trong thị trường này với cùng một mức giá. Do vậy Michael thường tỏ ra là một kẻ hơi ngốc nghếch khi chọn mua một CDS cụ thể nào đó vì ông không muốn phía IB thắc mắc lý do rồi sau đó thay đổi giá. Lúc đầu chỉ có Goldman Sachs và Deutsche Bank thực hiện deal với Michael nhưng càng ngày càng có nhiều ngân hàng khác nhảy vào thị trường này và chào bán CDS cho Michael. Giá trị của từng deal cũng tăng lên nhanh chóng từ 5 triệu – 10 triệu rồi tới 100 triệu đô. Cho tới cuối tháng 7 thì Michael đã đầu tư tổng cộng 750 triệu đô la vào thị trường CDS.

Việc các IB luôn sẵn sàng bán các CDS cho Michael khiến Michael này ra ý tưởng mở hẳn một quỹ đầu tư riêng để đầu tư vào các CDS này. Vào tháng 8-2005, Michael viết thư cho các nhà đầu tư trình bày ý tưởng của mình. Ông hi vọng có thể thu hút hàng tỷ đô la để đầu tư vào thị trường CDS. Không ngờ việc raise fund của Michael thất bại. Nhiều nhà đầu tư không hiểu các CDS này có gì hấp dẫn, một vài người thắc mắc liệu Michael có làm điều tương tự với quỹ Scion hay không? Có thể nói nếu Michael thành công trong vụ raise fund này thì cái tên nổi nhất sau khủng hoảng có thể không phải là John Paulson mà là Michael Burry. Chỉ 9 tháng sau thất bại của Michael, John Paulson đã thành công trong việc huy động nhiều tỷ đô la để đầu tư vào CDS. John Paulson hơn Mike 16 tuổi và có lẽ với kinh nghiệm cùng kỹ năng giao tiếp tốt nên đã raise fund tốt hơn nhiều một anh chàng Michael giao tiếp xã hội rất kém.

Michael không ngờ rằng thất bại trong vụ raise fund còn kéo theo nhiều hệ lụy vô cùng nghiêm trọng. Các nhà đầu tư tin tưởng vào kỹ năng phân tích và lựa chọn cổ phiếu theo bottom-up của Michael chứ không phải là khả năng dự đoán các xu hướng vĩ mô của ông. Trước thắc mắc và yêu cầu của các nhà đầu tư, Michael đành phải ngửa bài. Trong thư viết cho cổ đông vào tháng 10-2005, Michael tiết lộ rằng ông đã đầu tư phần lớn tiền của quỹ Scion vào thị trường CDS vì ông cho rằng đây chính là lúc mà thị trường gặp lỗi nghiêm trọng. Những “lỗi hệ thống” này đã xuất hiện trong quá khứ mà gần nhất là bong bóng chứng khoán tại nhật và bong bóng internet ở Mỹ. Michael cho rằng những cơ hội tuyệt vời thế này vô cùng hiếm trong đời đầu tư nên ông sẵn sàng tất tay khi ông tin tưởng 100% vào nhận định của mình.

Michael bây giờ gặp một vấn đề kinh điển của các nhà đầu tư giá trị – ông có ý tưởng đầu tư tuyệt vời nhưng lại không có sự tin tưởng từ các nhà đầu tư của mình. Qua năm 2006, sự tin tưởng của các nhà đầu tư ngày càng giảm dần khi mà giá trị của các CDS ngày càng giảm và quỹ Scion Capital phải ghi nhận thua lỗ hàng tháng, hàng quý. Michael ghi ngờ các ngân hàng đã thao túng mức giá của CDS vì thực tế ông không thể mua được CDS với mức giá mà các ngân hàng này cung cấp. Tuy nhiên các nhà đầu tư của quỹ Scion thì ngày càng sốt ruột và một số người bắt đầu muốn rút tiền khỏi quỹ. Khi thành lập quỹ Scion, để đảm bảo các nhà đầu tư có cái nhìn dài hạn, Michael đã yêu cầu các nhà đầu tư cam kết cứ qua 1 hoặc 2 năm mới được rút tiền 1 lần. Thật không may là cuối năm 2006 là thời điểm mà nhiều nhà đầu tư có thể thực hiện rút tiền. Đứng trước thử thách khó khăn, Michael quyết định thực hiện thủ tục ‘side pocket’ – không cho phép các nhà đầu tư được rút tiền. Thì ra trong luật có điều khoản cho phép fund manager từ chối cho các nhà đầu tư rút tiền nếu họ cho rằng asset classes mà quỹ nắm giữ thiếu thanh khoản hoặc có sự thao túng giá cả. Quyết định này của Michael đã làm bùng phát sự giận dữ của các nhà đầu tư và họ cùng nhau kiện Michael ra tòa. Theo sách “The Big Short” thì Joel Greenblatt cũng là một là một trong các nhà đầu tư nảy sinh mâu thuẫn và nghi ngờ Michael khi biết ông đầu tư vào CDS. Lewis mô tả sự việc này theo kiểu “thần tượng sụp đổ” vì Joel Greenblatt chẳng khác nào bố già, người đỡ đầu cho thành công của Michael. Tuy nhiên, điều này có thể không hoàn toàn chính xác vì Joel nói rằng ông chỉ không đồng ý việc Michael đóng trade các CDS cho doanh nghiệp chứ không phản đối việc đóng trade với các CDS cho các CDO. Joel tiết lộ rằng lý do duy nhất khiến ông rút tiền ra khỏi quỹ của Michael là vì chính quỹ của ông cũng bị các nhà đầu tư rút tiền.

Trong suốt năm 2006 và đầu năm 2007, Michael phải chịu stress khủng khiếp khi ông chứng kiến sự giận dữ của các nhà đầu tư. Họ nguyền rủa, thóa mọa và rồi kiện Michael ra tòa bất chấp những cố gắng giải thích của ông. Mọi việc bắt đầu thay đổi từ giữa năm 2007 khi thị trường nợ dưới chuẩn bắt đầu khủng hoảng nghiêm trọng và giá CDS bắt đầu tăng. Michael biết rằng lúc này các ngân hàng đầu tư đã thay đổi vị thế từ bán sang mua CDS. Thực tế Goldman Sachs lúc đó đã mua rất nhiều CDS từ AIG. Có lúc họ mua nhiều đến nỗi Goldman Sachs nhận ra rằng sự tồn tại của họ phụ thuộc vào sự tồn tại của AIG nên họ phải mua các loại chứng khoán để hedge khả năng AIG phá sản. Khi chính phủ Mỹ giải cứu AIG thì một phần tiền trong số này trực tiếp là để trả cho Goldman Sachs – công ty mà bộ trưởng tài chính Henry Paulson là cựu CEO.

Như chúng ta đều biết thì khủng hoảng sau đó đã nổ ra và giá CDS đã tăng mạnh. Quỹ Scion sau khi thua lỗ 18% trong năm 2006 đã tăng tới 166% trong năm 2007. Trải qua quá nhiều áp lức Michael quyết định đóng quỹ vào năm 2008 và trả lại tiền cho các nhà đầu tư. Tổng kết sau 8 năm quỹ Scion có mức return là 472%( Gross return 696% trước khi trừ phí) trong khi chỉ số S&P chỉ tăng 5.2% trong giai đoạn này. Các nhà đầu tư đã thu được tỷ suất lợi nhuận rất lớn nhưng khi nhận tiền họ đã không hề xin lỗi hay cám ơn Michael. Tất cả những thứ Michael nhận được chỉ là sự im lặng.

Sau khi giải thể quỹ Scion, Michael chỉ đầu tư bằng tài khoản cá nhân. Tuy nhiên giữa năm 2013, Michael đã tái xuất giang hồ và nhanh chóng huy động được trên 100 triệu đô tính đến tháng 9 năm 2013. Không rõ lần này Michael đã đánh hơi thấy con mồi ở asset classes nào.

Lời kết

Hy vọng qua bài viết này, chúng tôi đã cung cấp cho các bạn những thông tin thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của người đàn ông đại tài Michael Burry. Bạn là một nhà đầu tư yêu thích triết lý đầu tư giá trị? Bạn mong muốn tìm ra những con đường khác biệt? Còn chờ gì nữa, hãy xem ngay bộ phim “The Big Short” hay những tác phẩm khác về cuộc đời và sự nghiệp của Michael Burry để tìm cho mình hướng đi đúng đắn nhé!

CẢNH BÁO: Đầu tư vào các sản phẩm tài chính tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà có thể không phù hợp với một số nhà đầu tư. Do đó hãy cân nhắc kỹ lưỡng và làm chủ bản thân trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào cấu thành từ những nội dung tham khảo tại website này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button