Giáo dục - Đào tạoTải Mẫu

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15

Điện Ảnh 24G xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 theo quy định Thông tư 17/2019/TT-BGDĐT để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVPT 15 là bài thu hoạch về ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

  • Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018
  • Cách đăng nhập Chương trình tập huấn và bồi dưỡng Giáo viên
  • Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên theo Thông tư 17

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 số 1


1. Tác động của CNTT đối với giáo dục

1.1 Thay đổi mô hình giáo dục

Nền giáo dục Việt Nam trước nay sử dụng mô hình chuyển giao kiến thức theo cách độc thoại giữa giảng viên với sinh viên. Tuy nhiên, khi xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng cùng với sự phát triển công nghệ vượt bậc, mô hình này không thể tạo ra giá trị gia tăng. Điều đó cho thấy cách giảng bài truyền thống kém hiệu quả hơn so với các hình thức dạy – học tích cực.

“Giáo dục thông minh” hay “Giáo dục 4.0” được xem là mô hình phù hợp với xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Có sự liên kết chặt chẽ giữa 3 yếu tố quan trọng, đó là nhà trường – nhà quản lý – nhà doanh nghiệp. Theo đó, mô hình này thúc đẩy hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, giúp cho người học có thể chủ động quyết định nội dung, phương thức học tập theo nhu cầu của bản thân.

1.2 Thay đổi chất lượng dạy học

Chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp giáo viên trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô có thể tương tác với học sinh, sinh viên ở mọi nơi có sự hiện diện của công nghệ thông tin, không cần e ngại khoảng cách, các yếu tố khách quan khác.

Bài giảng được soạn thảo đa dạng với nhiều hình ảnh và gói gọn vào các thiết bị, tránh đi sự cồng kềnh khi phải mang giáo án theo, hoặc khó chỉnh sửa thêm thắt các kiến thức.

Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn giúp giáo viên có thể chia sẻ bài giảng với nhiều đồng nghiệp khác trên cả nước, tiếp thu ý kiến đóng góp để nâng cao chất lượng giáo án. Bên cạnh đó, các thầy cô còn được tìm hiểu thêm về những chuyên ngành khác như tin học, và học hỏi kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong thiết kế bài giảng.

1.3 Thay đổi hình thức dạy học

Chuyên đề ứng dụng CNTT trong dạy học phát triển đã mở ra triển vọng lớn trong việc đổi mới các hình thức dạy học. Nếu trước kia giáo viên thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học viên.

Học sinh, sinh viên phải nỗ lực tìm ra cách thức giải quyết bài tập thông qua việc tự tìm hiểu, học hỏi với máy tính và Internet. Chính điều này đã chuyển đổi từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”.

1.4 Thay đổi phương thức quản lý giáo dục

Công nghệ thông tin có sức mạnh thay đổi việc quản lý giáo dục thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng dẫn của BGD và các cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể là tin học hóa quản lý trường học theo hướng ứng dụng các công cụ trực tuyến, công cụ quản lý của cơ quan chủ quản (quản lý giáo viên, học sinh, quản lý thi, xếp thời khóa biểu, sổ điểm điện tử, sổ liên lạc điện tử).

Triển khai đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động đã giúp nâng cao hiệu quả chất lượng của việc trao đổi thông tin hai chiều, giữa đơn vị quản lý và các trường, giữa lãnh đạo nhà trường và giáo viên, học sinh. Điều này ngay lập tức đem đến cách tiếp cận mới trong công tác quản lý giáo dục trường học hiện nay.

2. Một số chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cụ thể

2.1 Ứng dụng soạn thảo giáo án

PowerPoint cung cấp đầy đủ các công cụ để thầy cô tạo ra những bài thuyết trình thông qua rất nhiều hiệu ứng slide để trình chiếu. Các hiệu ứng chuyển động trong PowerPoint được kết hợp với nhiều nội dung khác nhau để tạo nội dung phong phú cũng như ấn tượng, dễ để học sinh tiếp thu hơn.

Ngoài ra, tùy theo đặc thù môn học giáo viên có thể biết một số phần mềm bổ trợ:

  • Các phần mềm hỗ trợ giáo án môn Toán: Mathcad, Sketpad, Latex, MATHEMATICA v3.0 , GeoGebra, AUTO GRAPH,Cabri, MatLAB . . .
  • Phần mềm hỗ trợ soạn thảo giáo án môn Lý, Hóa, Sinh: Novoasoft Science Word 6.0, CHEM LAB 2.0, bộ Crocodile …
  • Adobe Presenter, Lecture Maker để soạn bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learning.

2.2 Ứng dụng trong giảng dạy

Phương tiện dạy học trong chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể kể đến như: Máy chiếu projector, smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web,…

Thầy cô cần sự hỗ trợ từ nhà trường và đội ngũ chuyên công nghệ thông tin để hiểu biết về từng loại thiết bị và ứng dụng trong giảng dạy. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần sự phản hồi tương tác từ HSSV để đảm bảo chọn phương tiện hữu hiệu và phù hợp với bài học nhất. Sự tương tác hai chiều này khiến ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đạt kết quả cao.

2.3 Ứng dụng trong tra cứu dữ liệu

Giáo viên cần bổ sung kho dữ liệu, hiểu biết của chính mình mỗi ngày để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Chỉ cần am hiểu một chút thao tác trên mạng internet, các thầy cô đã có thể khai thác hàng tá kho tàng những kiến thức hữu ích.

Thầy cô có thể dễ dàng tìm kiếm dữ liệu cần thiết trên internet

Một số các công cụ tìm kiếm phổ biến hiện nay là: google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên phát huy, tận dụng nguồn kiến thức từ các loại từ điển chuyên ngành với từng môn học.

2.4 Ứng dụng trong đánh giá công tác dạy và học

Trong công tác giảng dạy không thể thiếu khâu đánh giá kết quả của học sinh để đảm bảo tiêu chuẩn kiến thức cho các em, đồng thời hoàn thành chỉ tiêu mà ngành đưa ra.

Hiện nay, có rất nhiều thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin được sử dụng để kiểm tra năng lực HSSV. Sau khi giáo viên đã phân loại và xếp hạng, nhà trường sẽ dùng kỹ thuật tin học để thông báo kết quả đến học sinh, từ đó đưa ra kinh nghiệm và phương pháp học tập tốt hơn cho các em.

Sinh viên nhận kết quả học tập nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của CNTT

Đối với giáo viên cũng tương tự, nhà trường và các cấp quản lý có thể nắm rõ năng lực của cán bộ nhân viên thông qua các bảng đánh giá điện tử, vừa thuận tiện vừa mang tính bảo mật.

2.5 Ứng dụng trong cách học của học sinh

Như đã từng đề cập, chuyên đề ứng dụng CNTT trong dạy học làm thay đổi mô hình giáo dục truyền thống. Do vậy, cách học của HSSV cũng dần đổi mới. Các em được tự do sáng tạo trong quá trình học hơn, so với việc mỗi ngày đều tiếp thu thụ động những kiến thức từ phía thầy cô.

Học sinh sinh viên có thể tìm kiếm hầu như mọi thông tin, trong tất cả các lĩnh vực trong nước và quốc tế, tin tức mới và cả tin tức cũ thông qua internet. Nhờ đó, việc học của các em được chủ động hơn, tăng cường khả năng tự học và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Điều này góp phần nâng cao khả năng thực hành sau này của các em.

Sinh viên đại học chủ động nghiên cứu kiến thức trước khi vào lớp học

3. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học

Hiện nay, toàn ngành giáo dục đã xác định ứng dụng CNTT là 1 trong 9 nhóm nhiệm vụ triển khai trọng tâm, theo Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT.

Cụ thể giáo viên toàn ngành được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành; đóng góp hàng nghìn bài giảng điện tử E-Learning có chất lượng; kho luận văn tiến sĩ với gần 7.000 luận văn; ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi về đủ mọi môn học và ngành nghề,…

Các thầy cô tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến cho chương trình học đổi mới

Trong giai đoạn chống dịch Covid-19 và thực hiện giãn cách xã hội, các trường đã xây dựng kế hoạch học trực tuyến theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục, hướng dẫn thầy cô cài đặt phần mềm, vận động các em học sinh chủ động tham gia học trực tuyến.

Tuy vậy, chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại cần tiếp tục được khắc phục:

  • Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT (như máy tính, camera, máy in,…), đường truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo viên, học sinh – đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó khăn – còn thiếu, lạc hậu.
  • Còn nhiều hạn chế khi giáo viên tiếp cận với các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy học.
  • Thiếu nguồn nhân lực thông thạo về công nghệ thông tin để phổ biến, hướng dẫn trong ngành giáo dục.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 số 2


I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Công nghệ thông tin với những ưu thế vượt trội của nó đã đi vào tất cả các lĩnh vực ngày nay. Đối với giáo dục và đào tạo, CNTT đóng một vai trò to lớn, có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một “ xã hội học tập”.

Với sự phát triển của CNTT đã tạo ra cơ hội mới cho ngành GD & ĐT trong tất cả các lĩnh vực, từ quản lý giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực của hoạt động nhận thức của HS.

II. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực CNTT, nhận thức của nhân dân nói chung, của tầng lớp nhà giáo nói riêng đã được tiếp cận nhiều với máy tính, mạng Internet. Với những phần mềm hỗ trợ cho việc dạy và học thì CNTT thực sự là thiết bị hữu hiệu có thể thay tất cả những phương tiện thủ công trước đây. Nhưng để ứng dụng CNTT thành công trong giảng dạy không phải người giáo viên nào cũng có được. Do đó, đòi hỏi người giáo viên trực tiếp đứng lớp phải có sự đầu tư về thời gian thích đáng để tìm tòi, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ CNTT từ đó tổ chức hoạt động học tập có hiệu quả.

III. Thực trạng:

1. Thuận lợi:

a. Giáo viên:

– Được sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của BGH nhà trường và đồng nghiệp.

– Giáo viên được dạy đúng chuyên môn nghiệp vụ của mình đã được đào tạo.

– Giáo viên quan tâm tới học sinh, tận tâm với nghề, có sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học.

– Trường đã nối mạng Internet, có Wifi phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

b. Học sinh:

– Đa số các em ngoan ngoãn, lễ phép.

2. Khó khăn:

a. Giáo viên:

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là ứng dụng CNTT vào giảng dạy của nhà trường còn nhiều hạn chế. Thiếu các phòng học chức năng.

– Đa số là giáo viên trẻ mới ra trường, nhiều giáo viên trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn hạn chế.

b. Học sinh:

– Học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn trước tập thể.

– Hầu hết học sinh là con em các dân tộc thiểu số. Chính vì thế mà điều kiện được tiếp xúc với CNTT của đa số các em học sinh là rất hạn chế.

IV. Giải pháp:

Đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách giáo dục nước ta hiện nay. Việc ứng dụng CNTT dạy học có hiệu quả là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Để đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào dạy học có hiệu quả, tôi xin đề xuất một số định hướng và giải pháp như sau:

1. Nâng cao trình độ tin học cho bản thân:

Muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy hiệu quả, người giáo viên trực tiếp đứng lớp phải không ngừng nâng cao trình độ tin học cho bản thân, ngoài kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng thì yêu cầu phải nắm vững công dụng các tính năng, bảo quản tốt các phương tiện, kĩ thuật hỗ trợ cho dạy học như máy tính, máy chiếu…

Ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính và các phương tiện hỗ trợ, đòi hỏi giáo viên cần phải có kỹ năng thành thạo (thực tế cho thấy nhiều người có chứng chỉ hoặc bằng cấp cao về Tin học nhưng nếu ít sử dụng thì kỹ năng sẽ mai một, ngược lại chỉ với chứng chỉ A –Tin học văn phòng nhưng nếu bạn chịu khó học hỏi, thực hành thì việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ chẳng mấy khó khăn).

2. Công tác bồi dưỡng giáo viên:

Xác định Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công trong việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý và giảng dạy. Do đó, nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học, đặc biệt là các kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ giáo viên.

– Nhà trường phải thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm Tin học với giảng viên là giáo viên CNTT và những giáo viên có kỹ năng tốt về Tin học của trường, theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày như lấy thông tin, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, cách thiết kế bài kiểm tra,…

– Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề.

– Định hướng cho giáo viên luôn có ý thức sưu tầm tài liệu hướng dẫn ứng dụng CNTT hiệu quả, bộ phận chuyên môn nghiên cứu chọn lọc photo phát cho giáo viên ( bằng cách làm này nhà trường đã có nhiều tài liệu hay, dễ thực hành cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án Powerpoint, hướng dẫn sử dụng máy chiếu,…)

– Động viên giáo viên tích cực tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; chuyên môn nhà trường phải là bộ phận kết nối, là trung tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực.

Để làm được điều đó, BGH đặc biệt là phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi, cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì. Nói đi đôi với làm luôn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy phong trào phát triển.

3. Các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học:

– Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì chỉ được học trong môn Tin học. Chuyên môn nhà trường chú trọng dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm và tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi về cách ứng dụng CNTT một cách chọn lọc, phù hợp với đối tượng, nhằm phát huy có hiệu quả tác dụng của phương tiện, tránh lạm dụng quá mức.

– Các hình thức sử dụng hiệu quả được nhiều giáo viên sử dụng là: Dạy trình chiếu với cách thiết kế các slide về hình thức gần giống với bảng truyền thống ( màu sắc, cách chia bảng, cách trình bày đầu bài, đề mục,…); sử dụng máy chiếu như là phương tiện hỗ trợ cung cấp kênh hình với nhiều hình ảnh sinh động, âm thanh, video mà không phải mang vác nhiều tranh ảnh, bảng phụ, máy móc thiết bị khác; CNTT với nhiều phần mềm tiện ích là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác soạn bài, quản lý điểm, đánh giá xếp loại học sinh… được tiện lợi và nhanh chóng. Các phần mềm hỗ trợ phải kể đến như: MyEqText, cabri phần mềm toán học, soạn nhạc Ecore, Convert, Snagit, Cool Edit Pro, Photoshop …

– Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn…

– Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trong trao đổi cập nhật thông tin. Yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định với nhà trường.

– Ngoài việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy thì việc sử dụng CNTT vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt KTX cũng đạt hiệu quả hơn, thu hút các em tham gia nhiệt tình, sôi nổi.

V. Kết quả đạt được:

Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giáo viên đã có sự chuyển đổi về nhận thức, từ qui định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với bài giảng ứng dụng CNTT. Từ yêu thích đến chủ động học hỏi cho nên kỹ năng soạn giảng các tiết có ứng dụng CNTT của giáo viên không ngừng được nâng lên, chất lượng bài dạy cũng tốt hơn, hấp dẫn với học sinh hơn.

Hiện nay, Hầu hết giáo viên nhà trường có chứng chỉ Tin học văn phòng từ trình độ A trở lên và đều soạn bài bằng máy vi tính.

VI. Kết luận:

Vạn sự khởi đầu nan, ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giáo viên, nhưng qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình.

Tuy nhiên, nhà trường cũng xác định rõ với giáo viên: ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học, CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp tích cực chứ không phải là điều kiện đủ của phương pháp này. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy học. Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của học sinh thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sử dụng.

VII. Kiến nghị, đề xuất:

– Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT cho toàn thể giáo viên.

– Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy: sử dụng các phần mềm, soạn giảng bài giảng điện tử, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên internet…

– Phát huy hiệu quả của công tác thông tin liên lạc qua email, mạng internet. Tổ chức hội thảo chuyên đề cấp trường về ứng dụng CNTT trong dạy học.

Trên đây là một số ý kiến của tôi về ứng dụng CNTT trong dạy học với tinh thần CNTT thực sự là phương tiện hữu hiệu trong công tác quản lý và đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục toàn diện nhà trường.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 10
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 11
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 12
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 13

Tham khảo thêm

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 05 GVPT 05: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 04 Module GVPT 04: Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 06 GVPT 06: Kiểm tra, đánh giá học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 03 GVPT 03: Phát triển chuyên môn của bản thân
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 02 GVPT 02: Xây dựng phong cách của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông trong bối cảnh hiện nay
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 07 GVPT 07: Tư vấn và hỗ trợ học sinh trong hoạt động dạy học và giáo dục

Điện Ảnh 24G xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 theo quy định Thông tư 17/2019/TT-BGDĐT để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVPT 15 là bài thu hoạch về ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

  • Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018
  • Cách đăng nhập Chương trình tập huấn và bồi dưỡng Giáo viên
  • Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên theo Thông tư 17

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 số 1


1. Tác động của CNTT đối với giáo dục

1.1 Thay đổi mô hình giáo dục

Nền giáo dục Việt Nam trước nay sử dụng mô hình chuyển giao kiến thức theo cách độc thoại giữa giảng viên với sinh viên. Tuy nhiên, khi xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng cùng với sự phát triển công nghệ vượt bậc, mô hình này không thể tạo ra giá trị gia tăng. Điều đó cho thấy cách giảng bài truyền thống kém hiệu quả hơn so với các hình thức dạy – học tích cực.

“Giáo dục thông minh” hay “Giáo dục 4.0” được xem là mô hình phù hợp với xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Có sự liên kết chặt chẽ giữa 3 yếu tố quan trọng, đó là nhà trường – nhà quản lý – nhà doanh nghiệp. Theo đó, mô hình này thúc đẩy hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, giúp cho người học có thể chủ động quyết định nội dung, phương thức học tập theo nhu cầu của bản thân.

1.2 Thay đổi chất lượng dạy học

Chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp giáo viên trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô có thể tương tác với học sinh, sinh viên ở mọi nơi có sự hiện diện của công nghệ thông tin, không cần e ngại khoảng cách, các yếu tố khách quan khác.

Bài giảng được soạn thảo đa dạng với nhiều hình ảnh và gói gọn vào các thiết bị, tránh đi sự cồng kềnh khi phải mang giáo án theo, hoặc khó chỉnh sửa thêm thắt các kiến thức.

Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn giúp giáo viên có thể chia sẻ bài giảng với nhiều đồng nghiệp khác trên cả nước, tiếp thu ý kiến đóng góp để nâng cao chất lượng giáo án. Bên cạnh đó, các thầy cô còn được tìm hiểu thêm về những chuyên ngành khác như tin học, và học hỏi kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong thiết kế bài giảng.

1.3 Thay đổi hình thức dạy học

Chuyên đề ứng dụng CNTT trong dạy học phát triển đã mở ra triển vọng lớn trong việc đổi mới các hình thức dạy học. Nếu trước kia giáo viên thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học viên.

Học sinh, sinh viên phải nỗ lực tìm ra cách thức giải quyết bài tập thông qua việc tự tìm hiểu, học hỏi với máy tính và Internet. Chính điều này đã chuyển đổi từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”.

1.4 Thay đổi phương thức quản lý giáo dục

Công nghệ thông tin có sức mạnh thay đổi việc quản lý giáo dục thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng dẫn của BGD và các cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể là tin học hóa quản lý trường học theo hướng ứng dụng các công cụ trực tuyến, công cụ quản lý của cơ quan chủ quản (quản lý giáo viên, học sinh, quản lý thi, xếp thời khóa biểu, sổ điểm điện tử, sổ liên lạc điện tử).

Triển khai đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động đã giúp nâng cao hiệu quả chất lượng của việc trao đổi thông tin hai chiều, giữa đơn vị quản lý và các trường, giữa lãnh đạo nhà trường và giáo viên, học sinh. Điều này ngay lập tức đem đến cách tiếp cận mới trong công tác quản lý giáo dục trường học hiện nay.

2. Một số chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cụ thể

2.1 Ứng dụng soạn thảo giáo án

PowerPoint cung cấp đầy đủ các công cụ để thầy cô tạo ra những bài thuyết trình thông qua rất nhiều hiệu ứng slide để trình chiếu. Các hiệu ứng chuyển động trong PowerPoint được kết hợp với nhiều nội dung khác nhau để tạo nội dung phong phú cũng như ấn tượng, dễ để học sinh tiếp thu hơn.

Ngoài ra, tùy theo đặc thù môn học giáo viên có thể biết một số phần mềm bổ trợ:

  • Các phần mềm hỗ trợ giáo án môn Toán: Mathcad, Sketpad, Latex, MATHEMATICA v3.0 , GeoGebra, AUTO GRAPH,Cabri, MatLAB . . .
  • Phần mềm hỗ trợ soạn thảo giáo án môn Lý, Hóa, Sinh: Novoasoft Science Word 6.0, CHEM LAB 2.0, bộ Crocodile …
  • Adobe Presenter, Lecture Maker để soạn bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learning.

2.2 Ứng dụng trong giảng dạy

Phương tiện dạy học trong chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể kể đến như: Máy chiếu projector, smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web,…

Thầy cô cần sự hỗ trợ từ nhà trường và đội ngũ chuyên công nghệ thông tin để hiểu biết về từng loại thiết bị và ứng dụng trong giảng dạy. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần sự phản hồi tương tác từ HSSV để đảm bảo chọn phương tiện hữu hiệu và phù hợp với bài học nhất. Sự tương tác hai chiều này khiến ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đạt kết quả cao.

2.3 Ứng dụng trong tra cứu dữ liệu

Giáo viên cần bổ sung kho dữ liệu, hiểu biết của chính mình mỗi ngày để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Chỉ cần am hiểu một chút thao tác trên mạng internet, các thầy cô đã có thể khai thác hàng tá kho tàng những kiến thức hữu ích.

Thầy cô có thể dễ dàng tìm kiếm dữ liệu cần thiết trên internet

Một số các công cụ tìm kiếm phổ biến hiện nay là: google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên phát huy, tận dụng nguồn kiến thức từ các loại từ điển chuyên ngành với từng môn học.

2.4 Ứng dụng trong đánh giá công tác dạy và học

Trong công tác giảng dạy không thể thiếu khâu đánh giá kết quả của học sinh để đảm bảo tiêu chuẩn kiến thức cho các em, đồng thời hoàn thành chỉ tiêu mà ngành đưa ra.

Hiện nay, có rất nhiều thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin được sử dụng để kiểm tra năng lực HSSV. Sau khi giáo viên đã phân loại và xếp hạng, nhà trường sẽ dùng kỹ thuật tin học để thông báo kết quả đến học sinh, từ đó đưa ra kinh nghiệm và phương pháp học tập tốt hơn cho các em.

Sinh viên nhận kết quả học tập nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của CNTT

Đối với giáo viên cũng tương tự, nhà trường và các cấp quản lý có thể nắm rõ năng lực của cán bộ nhân viên thông qua các bảng đánh giá điện tử, vừa thuận tiện vừa mang tính bảo mật.

2.5 Ứng dụng trong cách học của học sinh

Như đã từng đề cập, chuyên đề ứng dụng CNTT trong dạy học làm thay đổi mô hình giáo dục truyền thống. Do vậy, cách học của HSSV cũng dần đổi mới. Các em được tự do sáng tạo trong quá trình học hơn, so với việc mỗi ngày đều tiếp thu thụ động những kiến thức từ phía thầy cô.

Học sinh sinh viên có thể tìm kiếm hầu như mọi thông tin, trong tất cả các lĩnh vực trong nước và quốc tế, tin tức mới và cả tin tức cũ thông qua internet. Nhờ đó, việc học của các em được chủ động hơn, tăng cường khả năng tự học và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Điều này góp phần nâng cao khả năng thực hành sau này của các em.

Sinh viên đại học chủ động nghiên cứu kiến thức trước khi vào lớp học

3. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học

Hiện nay, toàn ngành giáo dục đã xác định ứng dụng CNTT là 1 trong 9 nhóm nhiệm vụ triển khai trọng tâm, theo Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT.

Cụ thể giáo viên toàn ngành được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành; đóng góp hàng nghìn bài giảng điện tử E-Learning có chất lượng; kho luận văn tiến sĩ với gần 7.000 luận văn; ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi về đủ mọi môn học và ngành nghề,…

Các thầy cô tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến cho chương trình học đổi mới

Trong giai đoạn chống dịch Covid-19 và thực hiện giãn cách xã hội, các trường đã xây dựng kế hoạch học trực tuyến theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục, hướng dẫn thầy cô cài đặt phần mềm, vận động các em học sinh chủ động tham gia học trực tuyến.

Tuy vậy, chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại cần tiếp tục được khắc phục:

  • Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT (như máy tính, camera, máy in,…), đường truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo viên, học sinh – đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó khăn – còn thiếu, lạc hậu.
  • Còn nhiều hạn chế khi giáo viên tiếp cận với các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy học.
  • Thiếu nguồn nhân lực thông thạo về công nghệ thông tin để phổ biến, hướng dẫn trong ngành giáo dục.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 15 số 2


I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Công nghệ thông tin với những ưu thế vượt trội của nó đã đi vào tất cả các lĩnh vực ngày nay. Đối với giáo dục và đào tạo, CNTT đóng một vai trò to lớn, có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một “ xã hội học tập”.

Với sự phát triển của CNTT đã tạo ra cơ hội mới cho ngành GD & ĐT trong tất cả các lĩnh vực, từ quản lý giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực của hoạt động nhận thức của HS.

II. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực CNTT, nhận thức của nhân dân nói chung, của tầng lớp nhà giáo nói riêng đã được tiếp cận nhiều với máy tính, mạng Internet. Với những phần mềm hỗ trợ cho việc dạy và học thì CNTT thực sự là thiết bị hữu hiệu có thể thay tất cả những phương tiện thủ công trước đây. Nhưng để ứng dụng CNTT thành công trong giảng dạy không phải người giáo viên nào cũng có được. Do đó, đòi hỏi người giáo viên trực tiếp đứng lớp phải có sự đầu tư về thời gian thích đáng để tìm tòi, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ CNTT từ đó tổ chức hoạt động học tập có hiệu quả.

III. Thực trạng:

1. Thuận lợi:

a. Giáo viên:

– Được sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của BGH nhà trường và đồng nghiệp.

– Giáo viên được dạy đúng chuyên môn nghiệp vụ của mình đã được đào tạo.

– Giáo viên quan tâm tới học sinh, tận tâm với nghề, có sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học.

– Trường đã nối mạng Internet, có Wifi phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

b. Học sinh:

– Đa số các em ngoan ngoãn, lễ phép.

2. Khó khăn:

a. Giáo viên:

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là ứng dụng CNTT vào giảng dạy của nhà trường còn nhiều hạn chế. Thiếu các phòng học chức năng.

– Đa số là giáo viên trẻ mới ra trường, nhiều giáo viên trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn hạn chế.

b. Học sinh:

– Học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn trước tập thể.

– Hầu hết học sinh là con em các dân tộc thiểu số. Chính vì thế mà điều kiện được tiếp xúc với CNTT của đa số các em học sinh là rất hạn chế.

IV. Giải pháp:

Đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách giáo dục nước ta hiện nay. Việc ứng dụng CNTT dạy học có hiệu quả là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Để đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào dạy học có hiệu quả, tôi xin đề xuất một số định hướng và giải pháp như sau:

1. Nâng cao trình độ tin học cho bản thân:

Muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy hiệu quả, người giáo viên trực tiếp đứng lớp phải không ngừng nâng cao trình độ tin học cho bản thân, ngoài kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng thì yêu cầu phải nắm vững công dụng các tính năng, bảo quản tốt các phương tiện, kĩ thuật hỗ trợ cho dạy học như máy tính, máy chiếu…

Ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính và các phương tiện hỗ trợ, đòi hỏi giáo viên cần phải có kỹ năng thành thạo (thực tế cho thấy nhiều người có chứng chỉ hoặc bằng cấp cao về Tin học nhưng nếu ít sử dụng thì kỹ năng sẽ mai một, ngược lại chỉ với chứng chỉ A –Tin học văn phòng nhưng nếu bạn chịu khó học hỏi, thực hành thì việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ chẳng mấy khó khăn).

2. Công tác bồi dưỡng giáo viên:

Xác định Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công trong việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý và giảng dạy. Do đó, nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học, đặc biệt là các kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ giáo viên.

– Nhà trường phải thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm Tin học với giảng viên là giáo viên CNTT và những giáo viên có kỹ năng tốt về Tin học của trường, theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày như lấy thông tin, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, cách thiết kế bài kiểm tra,…

– Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề.

– Định hướng cho giáo viên luôn có ý thức sưu tầm tài liệu hướng dẫn ứng dụng CNTT hiệu quả, bộ phận chuyên môn nghiên cứu chọn lọc photo phát cho giáo viên ( bằng cách làm này nhà trường đã có nhiều tài liệu hay, dễ thực hành cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án Powerpoint, hướng dẫn sử dụng máy chiếu,…)

– Động viên giáo viên tích cực tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; chuyên môn nhà trường phải là bộ phận kết nối, là trung tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực.

Để làm được điều đó, BGH đặc biệt là phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi, cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì. Nói đi đôi với làm luôn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy phong trào phát triển.

3. Các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học:

– Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì chỉ được học trong môn Tin học. Chuyên môn nhà trường chú trọng dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm và tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi về cách ứng dụng CNTT một cách chọn lọc, phù hợp với đối tượng, nhằm phát huy có hiệu quả tác dụng của phương tiện, tránh lạm dụng quá mức.

– Các hình thức sử dụng hiệu quả được nhiều giáo viên sử dụng là: Dạy trình chiếu với cách thiết kế các slide về hình thức gần giống với bảng truyền thống ( màu sắc, cách chia bảng, cách trình bày đầu bài, đề mục,…); sử dụng máy chiếu như là phương tiện hỗ trợ cung cấp kênh hình với nhiều hình ảnh sinh động, âm thanh, video mà không phải mang vác nhiều tranh ảnh, bảng phụ, máy móc thiết bị khác; CNTT với nhiều phần mềm tiện ích là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác soạn bài, quản lý điểm, đánh giá xếp loại học sinh… được tiện lợi và nhanh chóng. Các phần mềm hỗ trợ phải kể đến như: MyEqText, cabri phần mềm toán học, soạn nhạc Ecore, Convert, Snagit, Cool Edit Pro, Photoshop …

– Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn…

– Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trong trao đổi cập nhật thông tin. Yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định với nhà trường.

– Ngoài việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy thì việc sử dụng CNTT vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt KTX cũng đạt hiệu quả hơn, thu hút các em tham gia nhiệt tình, sôi nổi.

V. Kết quả đạt được:

Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giáo viên đã có sự chuyển đổi về nhận thức, từ qui định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với bài giảng ứng dụng CNTT. Từ yêu thích đến chủ động học hỏi cho nên kỹ năng soạn giảng các tiết có ứng dụng CNTT của giáo viên không ngừng được nâng lên, chất lượng bài dạy cũng tốt hơn, hấp dẫn với học sinh hơn.

Hiện nay, Hầu hết giáo viên nhà trường có chứng chỉ Tin học văn phòng từ trình độ A trở lên và đều soạn bài bằng máy vi tính.

VI. Kết luận:

Vạn sự khởi đầu nan, ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giáo viên, nhưng qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình.

Tuy nhiên, nhà trường cũng xác định rõ với giáo viên: ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học, CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp tích cực chứ không phải là điều kiện đủ của phương pháp này. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy học. Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của học sinh thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sử dụng.

VII. Kiến nghị, đề xuất:

– Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT cho toàn thể giáo viên.

– Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy: sử dụng các phần mềm, soạn giảng bài giảng điện tử, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên internet…

– Phát huy hiệu quả của công tác thông tin liên lạc qua email, mạng internet. Tổ chức hội thảo chuyên đề cấp trường về ứng dụng CNTT trong dạy học.

Trên đây là một số ý kiến của tôi về ứng dụng CNTT trong dạy học với tinh thần CNTT thực sự là phương tiện hữu hiệu trong công tác quản lý và đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục toàn diện nhà trường.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 10
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 11
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 12
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 13

Tham khảo thêm

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 05 GVPT 05: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 04 Module GVPT 04: Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 06 GVPT 06: Kiểm tra, đánh giá học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 03 GVPT 03: Phát triển chuyên môn của bản thân
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 02 GVPT 02: Xây dựng phong cách của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông trong bối cảnh hiện nay
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 07 GVPT 07: Tư vấn và hỗ trợ học sinh trong hoạt động dạy học và giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button