Giáo dục - Đào tạoTải Mẫu

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 12

Điện Ảnh 24G xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 11 theo quy định Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT về chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch có chủ đề kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số tình huống nguy hiểm, bệnh thường gặp ở trẻ em.

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 12 số 1


Kết quả điều tra EDI (chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người) tại Việt Nam cho thấy: có trên 50% trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 5-6 tuổi được điều tra bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ thiếu hụt ít nhất là một lĩnh vực phát triển, đặc biệt tỷ lệ này cao hơn ở vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Đây là vấn đề đáng báo động của giáo dục mầm non (GDMN) Việt Nam. Để thực sự nâng cao chất lượng GDMN, đã đến lúc cần phải có sự thay đổi và nhất quán trong nhận thức và trong hành động. Thực hiện chương trình GDMN trên quan điểm lấy trẻ làm trung tâm hướng tới tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ em mầm non, đặc biệt là trẻ em người dân tộc thiểu số (DTTS) và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Trong chuyên đề này xin giới thiệu một số biện pháp vận dụng quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” trong chăm sóc, giáo dục trẻ em mầm non người DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ nhất: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non trong thực hiện chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non người DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn trên quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm”

Mỗi người lớn trong chúng ta đều khác nhau, đều có những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trẻ em trong trường mầm non cũng vậy. Trẻ khác nhau về: hoàn cảnh văn hóa và gia đình, địa bàn sinh sống, đặc điểm cá nhân, ngôn ngữ… Điều này càng rõ nét đối với những nơi có nhiều trẻ người DTTS, nhiều trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.

Do vậy, nhà quản lý giáo dục, đặc biệt là giáo viên mầm non cần tôn trọng sự khác biệt của trẻ, hiểu rõ sự đa dạng trong trường/lớp học mầm non để có các biện pháp giáo dục trẻ phù hợp.
Đối với cán bộ quản lý cần hiểu rõ quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, từ đó: Thay đổi nhận thức của bản thân và giáo viên; nhìn nhận đúng, sâu sắc chương trình GDMN theo quan điểm này và kịp thời hỗ trợ giáo viên, cụ thể:

– Hỗ trợ về tinh thần: Lắng nghe ý kiến của giáo viên, tư vấn, cho lời khuyên kịp thời; dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với giáo viên; không áp đặt, ra lệnh; tạo môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, được đánh giá, được chia sẻ; khuyến khích sự sáng tạo, chủ động, tích cực của giáo viên.

– Hỗ trợ về chuyên môn: Lên kế hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn trên tinh thần lấy người học làm trung tâm; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên thảo luận, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; kiểm tra, dự giờ, trao đổi, tư vấn, ra quyết định; cung cấp tài liệu, thông tin liên quan và thay đổi cách đánh giá giáo viên.

Ví dụ: Tổ chức bồi dưỡng giúp giáo viên có kiến thức về: Các chính sách hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em DTTS rất ít người và trẻ có hoàn cảnh khó khăn; Kiến thức về trẻ DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn: hiểu thế nào là trẻ em người DTTS, thế nào là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn; tiêu chuẩn xác định trẻ DTTS; các dấu hiệu nhận biết trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong chia sẻ thông tin về các dấu hiệu nghi ngờ trẻ gặp khó khăn với những người liên quan…

Từ đó, giáo viên có thái độ tích cực, tin tưởng, kỳ vọng vào tất cả trẻ em, ứng xử phù hợp với các vấn đề hành vi của trẻ có hoàn cảnh khó khăn như: Tin tưởng rằng tất cả trẻ em (trai và gái, xuất thân từ gia đình giàu hoặc nghèo, là người đa số hoặc DTTS, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hay tiếng DTTS, khuyết tật hay không khuyết tật…) đều có thể học; giáo viên có kì vọng cao vào trẻ em và luôn khuyến khích trẻ; khi hướng dẫn, nhận xét, đánh giá luôn tập trung vào các hành vi tích cực, sự tiến bộ của trẻ, gọi tên riêng của trẻ hoặc tên yêu khi nói về trẻ, không sử dụng những tên không hay của trẻ như “bờm”, “ngốc”…; tôn trọng sự đa dạng của mỗi trẻ và đối xử công bằng với trẻ; cho trẻ phản hồi về những điều trẻ làm ngay cả khi trẻ phạm sai lầm hay gặp khó khăn…

– Quan tâm đến chế độ chính sách, đời sống của giáo viên; có chế độ khuyến khích, động viên, khen thưởng kịp thời.

Cán bộ quản lý trường mầm non, đặt biệt là hiệu trưởng cần ưu tiên việc đảm bảo đúng, đủ, kịp thời các chế độ chính sách và quan tâm đến đời sống, điều kiện, hoàn cảnh của giáo viên, nhân viên. Mặt khác, cần động viên, khen thưởng kịp thời, đúng người, đúng việc tạo động lực làm việc, động lực khắc phục khó khăn để thực hiện nhiệm vụ cho đội ngũ giảm tỷ lệ giáo viên bỏ việc, bỏ nghề.

Thứ hai: Nâng cao các kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cho đội ngũ giáo viên

Thông qua sinh hoạt chuyên môn, các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên để củng cố và phát triển các kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em DTTS và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cho giáo viên, cụ thể:

– Kỹ năng xác định và đáp ứng nhu cầu của mỗi trẻ. Kỹ năng này đòi hỏi giáo viên xác định được sở thích, ý tưởng, kỹ năng của trẻ và khả năng phát triển của mỗi trẻ. Từ đó chuẩn bị các hoạt động phù hợp với khả năng, nhu cầu, ý tưởng, lợi ích của mỗi trẻ và điều kiện thực tế của trường, lớp.

Ví dụ: Giáo viên có thể thông qua trò chuyện với trẻ bằng ngôn ngữ của trẻ, tổ chức một số hoạt động giáo dục để trẻ thực hiện một số bài tập và căn cứ trên mục tiêu, yêu cầu của độ tuổi để đánh giá, xác định những khó khăn của trẻ DTTS mới đến trường.

– Kỹ năng lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của tất cả trẻ em. Trong kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày cần phải có sự đan xen giữa hoạt động động – hoạt động tĩnh và được thể hiện bằng hình ảnh (thông qua biểu tượng, tranh…) để đáp ứng nhu cầu của trẻ có khó khăn trong lớp. Kế hoạch hoạt động của trẻ cần có sự cân bằng giữa hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động chung cho cả lớp và có lưu ý đến các trẻ cần hỗ trợ cá nhân.

Ví dụ: Trẻ DTTS hạn chế về tiếng Việt trong giai đoạn mới đến trường, giáo viên có kế hoạch dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ, trong đó quan tâm đến trình độ của từng trẻ. Đối với những trẻ còn nhiều hạn chế về tiếng Việt, giáo viên có thể sắp xếp cho trẻ tham gia hoạt động nhiều hơn ở lĩnh vực ngôn ngữ, giao nhiệm vụ cho các bạn lớn hơn, các bạn sử dụng tiếng Việt tốt hơn giúp đỡ.

– Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả với tất cả trẻ em. Đối với những trẻ gặp khó khăn, đặc biệt là khó khăn về ngôn ngữ thì giáo viên cần giải thích từng bước, rõ ràng điều mình muốn trẻ thực hiện và kiên nhẫn trả lời câu hỏi của trẻ; thường xuyên hạ thấp người phù hợp với tầm nhìn của trẻ khi giao tiếp với trẻ; điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp với khả năng ngôn ngữ của trẻ em DTTS, cách tiếp cận thông tin của trẻ khuyết tật.

Ví dụ: Đối với trẻ khuyết tật về ngôn ngữ (câm), để hiểu nhu cầu của trẻ giáo viên cần quan sát liên hệ với trẻ bằng mắt, bằng các tín hiệu để biết là trẻ có thoải mái hay không, có sẵn sàng tham gia hoạt động không hoặc trẻ cần giúp đỡ gì…

– Kỹ năng hướng dẫn phù hợp với trẻ gặp khó khăn. Giáo viên cần chia các nhiệm vụ và công việc học tập thành những bước nhỏ để trẻ thực hiện và dần dần có thể đạt được mục đích; khuyến khích trẻ tự làm, kiên nhẫn, giúp đỡ và khen ngợi để trẻ được học cách thực hiện các kỹ năng tự phục vụ đơn giản; dành thời gian cho mỗi trẻ hoặc hoạt động nhóm nhỏ để tập trung vào nhu cầu cụ thể của trẻ.

– Kỹ năng điều chỉnh chương trình và hoạt động cho phù hợp với tất cả trẻ. Đây là kỹ năng quan trọng đối với người giáo viên khi thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Khi cần thiết giáo viên phải điều chỉnh kế hoạch, hoạt động giáo dục phù hợp với văn hóa, điều kiện sống và khả năng của trẻ em. Giáo viên phải sử dụng nội dung, ngôn ngữ, phương pháp tổ chức hoạt động phù hợp với khả năng và sự tham gia của tất cả trẻ em. Có khoảng thời gian đủ để trẻ hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

– Hướng dẫn trẻ trong lớp, trong trường có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp và không có sự phân biệt đối xử với các trẻ DTTS, trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Giáo viên đưa nội dung giáo dục trẻ biết tôn trọng và giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh đặc biệt vào nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tất cả trẻ trong lớp.

Thứ ba: Tổ chức môi trường giáo dục tạo cơ hội cho trẻ học tập, vui chơi

Cả hai môi trường bên trongbên ngoài lớp học đều rất quan trọng đối với việc dạy và học của cô và trẻ. Trẻ em sẽ tham gia vào các hoạt động và các loại trò chơi khác nhau tùy thuộc vào môi trường mà trẻ đang ở đó. Vì vậy trẻ cần có nhiều cơ hội để chơi và học ở cả bên trong và ngoài lớp học.

Đối với các lớp học có nhiều trẻ DTTS, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt cần có cơ sở vật chất phù hợp với nhu cầu của trẻ: sắp xếp lớp học phù hợp với trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ: Trẻ có khó khăn về vận động học ở lớp có vị trí đi lại thuận tiện, có thể sử dụng các phương tiện trợ giúp để trẻ có thể tự phục vụ, ít cần sự trợ giúp của người khác, di chuyển an toàn hoặc ở lớp có góc hỗ trợ trẻ có khó khăn.

Có đồ dùng, đồ chơi, phương tiện, thiết bị phù hợp với trẻ DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn, quan tâm bổ sung đồ dùng, đồ chơi phù hợp với trẻ khuyết tật của lớp.

Ví dụ: Các góc chơi có đồ dùng, đồ chơi đại diện cho văn hóa địa phương: trang phục dân tộc, đồ chơi mô phỏng đồ dùng âm nhạc, đồ dùng trong gia đình… của các dân tộc thiểu số.

Thứ tư: Hỗ trợ trẻ em người dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

– Đối với trẻ là người DTTS, giáo viên cần chú ý hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt đồng thời tôn trọng tiếng mẹ đẻ và văn hóa của trẻ DTTS.

– Đối với trẻ có hoàn cảnh khó khăn: Giáo viên, nhân viên ở trường mầm non có các hoạt động hỗ trợ cá nhân giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập, can thiệp sớm phù hợp với mỗi loại tật, trẻ được sử dụng các dụng cụ trợ giúp theo nhu cầu (máy trợ thính, xe lăn, nạng…). Trẻ em gia đình nghèo được miễn giảm một số khoản đóng góp, hỗ trợ quần áo…

Thứ năm: Phối hợp với gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

Giáo viên thường xuyên giữ mối liên hệ với gia đình trẻ; thường xuyên chia sẻ thông tin với gia đình trẻ về sự phát triển, sự tham gia của trẻ ở trường, lớp; khuyến khích sự tham gia của gia đình trẻ vào các hoạt động ở trường mầm non, chia sẻ kinh nghiệm, vật liệu địa phương trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ.

Giáo viên thường xuyên phối hợp với nhân viên tư vấn, nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ (nếu có) để nhận biết và giúp đỡ các trẻ có khó khăn.

Quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” được thể hiện trong tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục, mọi hoạt động hướng đến từng trẻ, từng nhóm trẻ. Giáo dục trẻ mầm non DTTS, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo quan điểm này là điều kiện cụ thể nhất giúp trẻ tiến bộ và phát triển./.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 12 số 2


Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được.

Giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó, đổi mới phương pháp giáo dục là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới giáo dục.

Trẻ em trong giai đoạn từ 0-6 tuổi là thời kì phát triển mạnh mẽ cả về thể chất, trí tuệ, cảm xúc. Trẻ tương tác tích cực với những gì diễn ra xung quanh chúng. Bản chất việc học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè. Vì vậy, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau để khuyến khích trẻ chơi, khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau. Giáo viên giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán các sự vật hiện tượng xung quanh và chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hoặc điều còn băn khoăn, thắc mắc. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mầm non.

Trên thực tế hiện nay vẫn còn không ít giáo viên dạy trẻ theo phương pháp truyền thống một chiều “cô nói, trẻ nghe”, vẫn còn khá nhiều giáo viên chọn việc trình chiếu cho trẻ xem hơn là việc tổ chức cho trẻ được hoạt động, lớp học thụ động bị cuốn theo các hiệu ứng trên màn hình làm loãng đi trọng tâm của bài học, hiệu quả đạt được không cao, các hoạt động cho trẻ khám phá, trải nghiệm chưa phong phú và đa dạng, giáo viên chưa tận dụng triệt để môi trường tự nhiên, sẵn có để dạy trẻ, đồ dùng đồ chơi cho trẻ vẫn chưa đáp ứng đủ theo quy định…đây chính là những biểu hiện của việc chậm đổi mới các phương pháp giáo dục.

Để đáp ứng được quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thì giáo viên phải sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của giáo viên, do đó để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn rất nhiều so với dạy theo phương pháp truyền thống, thụ động.

Sau đây là một số vấn đề mà giáo viên cần quan tâm để vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ đáp ứng với quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

*Giáo viên nên giúp trẻ tận dụng tất cả các giác quan để khám phá sự vật, hiện tượng

Giáo viên nên dành thời gian cho trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán, so sánh, sử dụng câu hỏi gợi mở, câu hỏi kích thích trẻ tư duy nhằm dẫn dắt trẻ suy nghĩ và giúp trẻ nói lên được về những gì chúng đang nhìn thấy, giáo viên gợi ý cho trẻ chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình, cùng nhau trao đổi để tìm hiểu, khám phá đối tượng. Bên cạnh đó giáo viên cần tạo cho trẻ môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu khác nhau để kích thích hứng thú khám phá của trẻ.

*Người giáo viên mầm non cần phải nắm vững các kỹ thuật sử dụng từng phương pháp dạy học cụ thể

Giáo viên cần thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật của từng phương pháp, có như thế thì mới nâng cao được hiệu quả tổ chức các hoạt động cho trẻ. Các kỹ thuật này bao gồm: Kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đưa ra tình huống có vấn đề, kỹ thuật đặt câu hỏi… Cụ thể về kỹ thuật đặt câu hỏi thì giáo viên cần chú ý tới một số yêu cầu như sau: Câu hỏi phải liên quan trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu bài học; câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu; đúng lúc, đúng chỗ; phù hợp với trình độ của trẻ; câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ của trẻ nhằm khuyến khích sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ, giáo viên không ghép nhiều nội dung trong một câu hỏi, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc, trẻ sẽ trả lời dễ dàng hơn với các câu hỏi đơn nghĩa, rõ ý.

* Cần khai thác và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách khoa học

Để thực hiện tốt điều này thì trong từng phương pháp dạy học cụ thể giáo viên cần phải chú ý một số nội dung như sau:

– Nhằm giúp cho sự hiểu biết của trẻ trở nên sâu sắc và bền vững hơn, giúp trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn thì giáo viên nên sử dụng phương pháp thảo luận nhóm. Có rất nhiều cách khác nhau để chia nhóm tuy nhiên, không nên chia nhóm trẻ quá đông hoặc quá ít, nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau. Cần quy định rõ thời gian thảo luận và kết quả thảo luận cho các nhóm, cần bầu ra trưởng nhóm, kết quả thảo luận nhóm có thể được trình bày bằng nhiều hình thức như: vẽ, hát, đóng kịch, thơ…Giáo viên cần quan sát các nhóm thảo luận và có sự giúp đỡ kịp thời trong trường hợp các nhóm gặp khó khăn.

– Đối với phương pháp dạy học giải quyết vấn đề thì giáo viên cần thực hiện đúng theo quy trình các bước như sau: Xác định, nhận dạng vấn đề hoặc tình huống; thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề hoặc tình huống đặt ra; liệt kê các cách giải quyết có thể có; phân tích, đánh giá kết quả từng cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị); so sánh kết quả các cách giải quyết; lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất; thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn; rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

– Đối với phương pháp đóng vai thì việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là giáo viên giúp trẻ tham gia thảo luận sâu sau phần tham gia vào vai diễn ấy.

Để sử dụng phương pháp trò chơi đạt hiệu quả thì giáo viên nên chọn những trò chơi dễ tổ chức và thực hiện, trò chơi phải phù hợp với chủ đề, với đặc điểm và trình độ của trẻ, phù hợp với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực, trẻ phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi, trò chơi phải tạo được sự hứng thú và vui thích của trẻ.

– Khi sử dụng phương pháp dạy học khám phá giáo viên nên lựa chọn nội dung vấn đề hoặc tình huống đảm bảo tính vừa sức đối với trẻ, chuẩn bị đồ chơi, đồ dùng trực quan và những điều kiện cần thiết để trẻ tự tìm tòi khám phá, tổ chức cho trẻ làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm; khuyến khích trẻ tự tìm tòi khám phá, đưa ra các phát hiện, cách giải quyết có thể; liệt kê các cách giải quyết có thể có; phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết của cá nhân trẻ, của nhóm trẻ; lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất; kết luận về nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho trẻ tự kiểm tra, tự điều chỉnh; rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

Đối với phương pháp dạy học trải nghiệm thì giáo viên nên tổ chức cho trẻ thực hiện đủ bốn bước: quan sát; suy nghĩ (tâm trí); Cảm nhận (cảm xúc); Hành động (cơ bắp). Để học hiệu quả, trẻ cần phải: tiếp nhận thông tin, suy ngẫm xem nó sẽ tác động đến cuộc sống của trẻ em như thế nào, so sánh mức độ phù hợp của nó với những trải nghiệm của trẻ em thế nào và suy nghĩ xem từ thông tin đó trẻ em sẽ có những cách hành xử mới nào. Việc học tập đòi hỏi không chỉ có nhìn, nghe, chuyển động hay động chạm. Trẻ cần biết kết hợp những gì trẻ cảm giác và suy nghĩ được với những gì trẻ cảm nhận và ứng xử.

Phương pháp động não khi sử dụng đối với trẻ mầm non thì giáo viên nên hướng dẫn trẻ cách trả lời những câu hỏi ngắn, có khi chỉ cần một từ. Tất cả ý kiến của trẻ đều cần được giáo viên khích lệ, thừa nhận. Đặc biệt, không phê phán các câu trả lời của trẻ và luôn khen ngợi trẻ đúng lúc. Cuối giờ thảo luận cần nhấn mạnh kết quả có được là thành quả của cả nhóm hoặc của tất cả các thành viên trong nhóm.

Làm thế nào để vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy học theo Dự án? Đây là một phương pháp dạy học rất có ý nghĩa đối với trẻ, tuy nhiên trong thực tế thì phương pháp này ít được giáo viên sử dụng. Các dự án thường xuất hiện từ các câu hỏi của trẻ. Dự án được thực hiện bởi một trẻ hoặc một nhóm trẻ em (4-6 thành viên) để trải nghiệm và khám phá các vấn đề, câu hỏi, vấn đề và thách thức có liên quan. Thời gian thực hiện dự án thường phải mất vài tuần để hoàn thành – và đôi khi lâu hơn nữa, tùy thuộc vào độ tuổi và sở thích của trẻ. Phương pháp dạy học theo Dự án được tổ chức thành 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Thử hứng thú của trẻ

Ngay từ khi bắt đầu dự án, giáo viên quan tâm đến chủ đề thông qua việc khuyến khích trẻ chia sẻ những câu chuyện cá nhân có liên quan. Khi trẻ có hiểu biết hiện tại về chủ đề nào đó, từ đó giáo viên đánh giá xem mức độ hiểu biết của trẻ như thế nào và giúp trẻ xây dựng các câu hỏi mà trẻ có thể tìm hiểu.

+ Giai đoạn 2: Hoạt động khám phá

Cho phép trẻ đi thực địa, phỏng vấn những người trưởng thành, những nhà chuyên môn giỏi. Trẻ em có thể xem sách, mạng Internet qua sự hỗ trợ của người lớn, Video… Sau đó trẻ sử dụng nhiều hình thức để minh họa những gì trẻ đã học được và chia sẻ kiến ​​thức mới với bạn.

+ Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả và những điều trẻ đã học được

Giáo viên hướng dẫn kết luận và giúp trẻ xem lại thành quả của mình. Trẻ chia sẻ công việc của mình với cha mẹ, với một lớp học khác. Đánh giá của giáo viên về những gì trẻ đã học được thông qua dự án. Sau đó trẻ tạo ra các bài thuyết trình và sản phẩm để chia sẻ những gì trẻ đã nghiên cứu, tìm hiểu. Kết thúc dự án sẽ cho ra sản phẩm như là: Poster, mô hình, bài báo cáo, vật thật, …

Như vậy, các phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non không phải là một phương pháp hoàn toàn mới, mà chính là sự kế thừa và phát huy tối đa những ưu điểm và khả năng có sẵn của các phương pháp dạy học truyền thống. Việc sử dụng và phối hợp một cách khéo léo, hợp lý các phương pháp dạy học khác nhau sẽ phát huy tính tích cực và sự hợp tác của đứa trẻ. Tùy thuộc vào đặc điểm tiếp nhận kiến thức của trẻ mà giáo viên lựa chọn phương pháp tiếp cận cho phù hợp. Để thực hiện tốt các phương pháp dạy học tích cực thì giáo viên phải được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về nội dung này, thường xuyên rèn luyện cho mình kỹ năng ứng xử các tình huống sư phạm thật tinh tế và linh hoạt, sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại, biết định hướng sự phát triển của trẻ theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo sự tự do của trẻ trong các hoạt động giáo dục khác./

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 4
  • Mẫu kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2019-2020
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 5

Điện Ảnh 24G xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 11 theo quy định Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT về chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch có chủ đề kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số tình huống nguy hiểm, bệnh thường gặp ở trẻ em.

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 12 số 1


Kết quả điều tra EDI (chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người) tại Việt Nam cho thấy: có trên 50% trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 5-6 tuổi được điều tra bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ thiếu hụt ít nhất là một lĩnh vực phát triển, đặc biệt tỷ lệ này cao hơn ở vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Đây là vấn đề đáng báo động của giáo dục mầm non (GDMN) Việt Nam. Để thực sự nâng cao chất lượng GDMN, đã đến lúc cần phải có sự thay đổi và nhất quán trong nhận thức và trong hành động. Thực hiện chương trình GDMN trên quan điểm lấy trẻ làm trung tâm hướng tới tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ em mầm non, đặc biệt là trẻ em người dân tộc thiểu số (DTTS) và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Trong chuyên đề này xin giới thiệu một số biện pháp vận dụng quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” trong chăm sóc, giáo dục trẻ em mầm non người DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ nhất: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non trong thực hiện chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non người DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn trên quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm”

Mỗi người lớn trong chúng ta đều khác nhau, đều có những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trẻ em trong trường mầm non cũng vậy. Trẻ khác nhau về: hoàn cảnh văn hóa và gia đình, địa bàn sinh sống, đặc điểm cá nhân, ngôn ngữ… Điều này càng rõ nét đối với những nơi có nhiều trẻ người DTTS, nhiều trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.

Do vậy, nhà quản lý giáo dục, đặc biệt là giáo viên mầm non cần tôn trọng sự khác biệt của trẻ, hiểu rõ sự đa dạng trong trường/lớp học mầm non để có các biện pháp giáo dục trẻ phù hợp.
Đối với cán bộ quản lý cần hiểu rõ quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, từ đó: Thay đổi nhận thức của bản thân và giáo viên; nhìn nhận đúng, sâu sắc chương trình GDMN theo quan điểm này và kịp thời hỗ trợ giáo viên, cụ thể:

– Hỗ trợ về tinh thần: Lắng nghe ý kiến của giáo viên, tư vấn, cho lời khuyên kịp thời; dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với giáo viên; không áp đặt, ra lệnh; tạo môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, được đánh giá, được chia sẻ; khuyến khích sự sáng tạo, chủ động, tích cực của giáo viên.

– Hỗ trợ về chuyên môn: Lên kế hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn trên tinh thần lấy người học làm trung tâm; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên thảo luận, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; kiểm tra, dự giờ, trao đổi, tư vấn, ra quyết định; cung cấp tài liệu, thông tin liên quan và thay đổi cách đánh giá giáo viên.

Ví dụ: Tổ chức bồi dưỡng giúp giáo viên có kiến thức về: Các chính sách hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em DTTS rất ít người và trẻ có hoàn cảnh khó khăn; Kiến thức về trẻ DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn: hiểu thế nào là trẻ em người DTTS, thế nào là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn; tiêu chuẩn xác định trẻ DTTS; các dấu hiệu nhận biết trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong chia sẻ thông tin về các dấu hiệu nghi ngờ trẻ gặp khó khăn với những người liên quan…

Từ đó, giáo viên có thái độ tích cực, tin tưởng, kỳ vọng vào tất cả trẻ em, ứng xử phù hợp với các vấn đề hành vi của trẻ có hoàn cảnh khó khăn như: Tin tưởng rằng tất cả trẻ em (trai và gái, xuất thân từ gia đình giàu hoặc nghèo, là người đa số hoặc DTTS, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hay tiếng DTTS, khuyết tật hay không khuyết tật…) đều có thể học; giáo viên có kì vọng cao vào trẻ em và luôn khuyến khích trẻ; khi hướng dẫn, nhận xét, đánh giá luôn tập trung vào các hành vi tích cực, sự tiến bộ của trẻ, gọi tên riêng của trẻ hoặc tên yêu khi nói về trẻ, không sử dụng những tên không hay của trẻ như “bờm”, “ngốc”…; tôn trọng sự đa dạng của mỗi trẻ và đối xử công bằng với trẻ; cho trẻ phản hồi về những điều trẻ làm ngay cả khi trẻ phạm sai lầm hay gặp khó khăn…

– Quan tâm đến chế độ chính sách, đời sống của giáo viên; có chế độ khuyến khích, động viên, khen thưởng kịp thời.

Cán bộ quản lý trường mầm non, đặt biệt là hiệu trưởng cần ưu tiên việc đảm bảo đúng, đủ, kịp thời các chế độ chính sách và quan tâm đến đời sống, điều kiện, hoàn cảnh của giáo viên, nhân viên. Mặt khác, cần động viên, khen thưởng kịp thời, đúng người, đúng việc tạo động lực làm việc, động lực khắc phục khó khăn để thực hiện nhiệm vụ cho đội ngũ giảm tỷ lệ giáo viên bỏ việc, bỏ nghề.

Thứ hai: Nâng cao các kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cho đội ngũ giáo viên

Thông qua sinh hoạt chuyên môn, các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên để củng cố và phát triển các kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em DTTS và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cho giáo viên, cụ thể:

– Kỹ năng xác định và đáp ứng nhu cầu của mỗi trẻ. Kỹ năng này đòi hỏi giáo viên xác định được sở thích, ý tưởng, kỹ năng của trẻ và khả năng phát triển của mỗi trẻ. Từ đó chuẩn bị các hoạt động phù hợp với khả năng, nhu cầu, ý tưởng, lợi ích của mỗi trẻ và điều kiện thực tế của trường, lớp.

Ví dụ: Giáo viên có thể thông qua trò chuyện với trẻ bằng ngôn ngữ của trẻ, tổ chức một số hoạt động giáo dục để trẻ thực hiện một số bài tập và căn cứ trên mục tiêu, yêu cầu của độ tuổi để đánh giá, xác định những khó khăn của trẻ DTTS mới đến trường.

– Kỹ năng lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của tất cả trẻ em. Trong kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày cần phải có sự đan xen giữa hoạt động động – hoạt động tĩnh và được thể hiện bằng hình ảnh (thông qua biểu tượng, tranh…) để đáp ứng nhu cầu của trẻ có khó khăn trong lớp. Kế hoạch hoạt động của trẻ cần có sự cân bằng giữa hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động chung cho cả lớp và có lưu ý đến các trẻ cần hỗ trợ cá nhân.

Ví dụ: Trẻ DTTS hạn chế về tiếng Việt trong giai đoạn mới đến trường, giáo viên có kế hoạch dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ, trong đó quan tâm đến trình độ của từng trẻ. Đối với những trẻ còn nhiều hạn chế về tiếng Việt, giáo viên có thể sắp xếp cho trẻ tham gia hoạt động nhiều hơn ở lĩnh vực ngôn ngữ, giao nhiệm vụ cho các bạn lớn hơn, các bạn sử dụng tiếng Việt tốt hơn giúp đỡ.

– Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả với tất cả trẻ em. Đối với những trẻ gặp khó khăn, đặc biệt là khó khăn về ngôn ngữ thì giáo viên cần giải thích từng bước, rõ ràng điều mình muốn trẻ thực hiện và kiên nhẫn trả lời câu hỏi của trẻ; thường xuyên hạ thấp người phù hợp với tầm nhìn của trẻ khi giao tiếp với trẻ; điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp với khả năng ngôn ngữ của trẻ em DTTS, cách tiếp cận thông tin của trẻ khuyết tật.

Ví dụ: Đối với trẻ khuyết tật về ngôn ngữ (câm), để hiểu nhu cầu của trẻ giáo viên cần quan sát liên hệ với trẻ bằng mắt, bằng các tín hiệu để biết là trẻ có thoải mái hay không, có sẵn sàng tham gia hoạt động không hoặc trẻ cần giúp đỡ gì…

– Kỹ năng hướng dẫn phù hợp với trẻ gặp khó khăn. Giáo viên cần chia các nhiệm vụ và công việc học tập thành những bước nhỏ để trẻ thực hiện và dần dần có thể đạt được mục đích; khuyến khích trẻ tự làm, kiên nhẫn, giúp đỡ và khen ngợi để trẻ được học cách thực hiện các kỹ năng tự phục vụ đơn giản; dành thời gian cho mỗi trẻ hoặc hoạt động nhóm nhỏ để tập trung vào nhu cầu cụ thể của trẻ.

– Kỹ năng điều chỉnh chương trình và hoạt động cho phù hợp với tất cả trẻ. Đây là kỹ năng quan trọng đối với người giáo viên khi thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Khi cần thiết giáo viên phải điều chỉnh kế hoạch, hoạt động giáo dục phù hợp với văn hóa, điều kiện sống và khả năng của trẻ em. Giáo viên phải sử dụng nội dung, ngôn ngữ, phương pháp tổ chức hoạt động phù hợp với khả năng và sự tham gia của tất cả trẻ em. Có khoảng thời gian đủ để trẻ hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

– Hướng dẫn trẻ trong lớp, trong trường có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp và không có sự phân biệt đối xử với các trẻ DTTS, trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Giáo viên đưa nội dung giáo dục trẻ biết tôn trọng và giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh đặc biệt vào nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tất cả trẻ trong lớp.

Thứ ba: Tổ chức môi trường giáo dục tạo cơ hội cho trẻ học tập, vui chơi

Cả hai môi trường bên trongbên ngoài lớp học đều rất quan trọng đối với việc dạy và học của cô và trẻ. Trẻ em sẽ tham gia vào các hoạt động và các loại trò chơi khác nhau tùy thuộc vào môi trường mà trẻ đang ở đó. Vì vậy trẻ cần có nhiều cơ hội để chơi và học ở cả bên trong và ngoài lớp học.

Đối với các lớp học có nhiều trẻ DTTS, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt cần có cơ sở vật chất phù hợp với nhu cầu của trẻ: sắp xếp lớp học phù hợp với trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ: Trẻ có khó khăn về vận động học ở lớp có vị trí đi lại thuận tiện, có thể sử dụng các phương tiện trợ giúp để trẻ có thể tự phục vụ, ít cần sự trợ giúp của người khác, di chuyển an toàn hoặc ở lớp có góc hỗ trợ trẻ có khó khăn.

Có đồ dùng, đồ chơi, phương tiện, thiết bị phù hợp với trẻ DTTS và trẻ có hoàn cảnh khó khăn, quan tâm bổ sung đồ dùng, đồ chơi phù hợp với trẻ khuyết tật của lớp.

Ví dụ: Các góc chơi có đồ dùng, đồ chơi đại diện cho văn hóa địa phương: trang phục dân tộc, đồ chơi mô phỏng đồ dùng âm nhạc, đồ dùng trong gia đình… của các dân tộc thiểu số.

Thứ tư: Hỗ trợ trẻ em người dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

– Đối với trẻ là người DTTS, giáo viên cần chú ý hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt đồng thời tôn trọng tiếng mẹ đẻ và văn hóa của trẻ DTTS.

– Đối với trẻ có hoàn cảnh khó khăn: Giáo viên, nhân viên ở trường mầm non có các hoạt động hỗ trợ cá nhân giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập, can thiệp sớm phù hợp với mỗi loại tật, trẻ được sử dụng các dụng cụ trợ giúp theo nhu cầu (máy trợ thính, xe lăn, nạng…). Trẻ em gia đình nghèo được miễn giảm một số khoản đóng góp, hỗ trợ quần áo…

Thứ năm: Phối hợp với gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

Giáo viên thường xuyên giữ mối liên hệ với gia đình trẻ; thường xuyên chia sẻ thông tin với gia đình trẻ về sự phát triển, sự tham gia của trẻ ở trường, lớp; khuyến khích sự tham gia của gia đình trẻ vào các hoạt động ở trường mầm non, chia sẻ kinh nghiệm, vật liệu địa phương trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ.

Giáo viên thường xuyên phối hợp với nhân viên tư vấn, nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ (nếu có) để nhận biết và giúp đỡ các trẻ có khó khăn.

Quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” được thể hiện trong tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục, mọi hoạt động hướng đến từng trẻ, từng nhóm trẻ. Giáo dục trẻ mầm non DTTS, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo quan điểm này là điều kiện cụ thể nhất giúp trẻ tiến bộ và phát triển./.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 12 số 2


Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được.

Giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó, đổi mới phương pháp giáo dục là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới giáo dục.

Trẻ em trong giai đoạn từ 0-6 tuổi là thời kì phát triển mạnh mẽ cả về thể chất, trí tuệ, cảm xúc. Trẻ tương tác tích cực với những gì diễn ra xung quanh chúng. Bản chất việc học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè. Vì vậy, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau để khuyến khích trẻ chơi, khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau. Giáo viên giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán các sự vật hiện tượng xung quanh và chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hoặc điều còn băn khoăn, thắc mắc. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mầm non.

Trên thực tế hiện nay vẫn còn không ít giáo viên dạy trẻ theo phương pháp truyền thống một chiều “cô nói, trẻ nghe”, vẫn còn khá nhiều giáo viên chọn việc trình chiếu cho trẻ xem hơn là việc tổ chức cho trẻ được hoạt động, lớp học thụ động bị cuốn theo các hiệu ứng trên màn hình làm loãng đi trọng tâm của bài học, hiệu quả đạt được không cao, các hoạt động cho trẻ khám phá, trải nghiệm chưa phong phú và đa dạng, giáo viên chưa tận dụng triệt để môi trường tự nhiên, sẵn có để dạy trẻ, đồ dùng đồ chơi cho trẻ vẫn chưa đáp ứng đủ theo quy định…đây chính là những biểu hiện của việc chậm đổi mới các phương pháp giáo dục.

Để đáp ứng được quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thì giáo viên phải sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của giáo viên, do đó để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn rất nhiều so với dạy theo phương pháp truyền thống, thụ động.

Sau đây là một số vấn đề mà giáo viên cần quan tâm để vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ đáp ứng với quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

*Giáo viên nên giúp trẻ tận dụng tất cả các giác quan để khám phá sự vật, hiện tượng

Giáo viên nên dành thời gian cho trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán, so sánh, sử dụng câu hỏi gợi mở, câu hỏi kích thích trẻ tư duy nhằm dẫn dắt trẻ suy nghĩ và giúp trẻ nói lên được về những gì chúng đang nhìn thấy, giáo viên gợi ý cho trẻ chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình, cùng nhau trao đổi để tìm hiểu, khám phá đối tượng. Bên cạnh đó giáo viên cần tạo cho trẻ môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu khác nhau để kích thích hứng thú khám phá của trẻ.

*Người giáo viên mầm non cần phải nắm vững các kỹ thuật sử dụng từng phương pháp dạy học cụ thể

Giáo viên cần thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật của từng phương pháp, có như thế thì mới nâng cao được hiệu quả tổ chức các hoạt động cho trẻ. Các kỹ thuật này bao gồm: Kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đưa ra tình huống có vấn đề, kỹ thuật đặt câu hỏi… Cụ thể về kỹ thuật đặt câu hỏi thì giáo viên cần chú ý tới một số yêu cầu như sau: Câu hỏi phải liên quan trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu bài học; câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu; đúng lúc, đúng chỗ; phù hợp với trình độ của trẻ; câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ của trẻ nhằm khuyến khích sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ, giáo viên không ghép nhiều nội dung trong một câu hỏi, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc, trẻ sẽ trả lời dễ dàng hơn với các câu hỏi đơn nghĩa, rõ ý.

* Cần khai thác và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách khoa học

Để thực hiện tốt điều này thì trong từng phương pháp dạy học cụ thể giáo viên cần phải chú ý một số nội dung như sau:

– Nhằm giúp cho sự hiểu biết của trẻ trở nên sâu sắc và bền vững hơn, giúp trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn thì giáo viên nên sử dụng phương pháp thảo luận nhóm. Có rất nhiều cách khác nhau để chia nhóm tuy nhiên, không nên chia nhóm trẻ quá đông hoặc quá ít, nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau. Cần quy định rõ thời gian thảo luận và kết quả thảo luận cho các nhóm, cần bầu ra trưởng nhóm, kết quả thảo luận nhóm có thể được trình bày bằng nhiều hình thức như: vẽ, hát, đóng kịch, thơ…Giáo viên cần quan sát các nhóm thảo luận và có sự giúp đỡ kịp thời trong trường hợp các nhóm gặp khó khăn.

– Đối với phương pháp dạy học giải quyết vấn đề thì giáo viên cần thực hiện đúng theo quy trình các bước như sau: Xác định, nhận dạng vấn đề hoặc tình huống; thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề hoặc tình huống đặt ra; liệt kê các cách giải quyết có thể có; phân tích, đánh giá kết quả từng cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị); so sánh kết quả các cách giải quyết; lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất; thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn; rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

– Đối với phương pháp đóng vai thì việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là giáo viên giúp trẻ tham gia thảo luận sâu sau phần tham gia vào vai diễn ấy.

Để sử dụng phương pháp trò chơi đạt hiệu quả thì giáo viên nên chọn những trò chơi dễ tổ chức và thực hiện, trò chơi phải phù hợp với chủ đề, với đặc điểm và trình độ của trẻ, phù hợp với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực, trẻ phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi, trò chơi phải tạo được sự hứng thú và vui thích của trẻ.

– Khi sử dụng phương pháp dạy học khám phá giáo viên nên lựa chọn nội dung vấn đề hoặc tình huống đảm bảo tính vừa sức đối với trẻ, chuẩn bị đồ chơi, đồ dùng trực quan và những điều kiện cần thiết để trẻ tự tìm tòi khám phá, tổ chức cho trẻ làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm; khuyến khích trẻ tự tìm tòi khám phá, đưa ra các phát hiện, cách giải quyết có thể; liệt kê các cách giải quyết có thể có; phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết của cá nhân trẻ, của nhóm trẻ; lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất; kết luận về nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho trẻ tự kiểm tra, tự điều chỉnh; rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

Đối với phương pháp dạy học trải nghiệm thì giáo viên nên tổ chức cho trẻ thực hiện đủ bốn bước: quan sát; suy nghĩ (tâm trí); Cảm nhận (cảm xúc); Hành động (cơ bắp). Để học hiệu quả, trẻ cần phải: tiếp nhận thông tin, suy ngẫm xem nó sẽ tác động đến cuộc sống của trẻ em như thế nào, so sánh mức độ phù hợp của nó với những trải nghiệm của trẻ em thế nào và suy nghĩ xem từ thông tin đó trẻ em sẽ có những cách hành xử mới nào. Việc học tập đòi hỏi không chỉ có nhìn, nghe, chuyển động hay động chạm. Trẻ cần biết kết hợp những gì trẻ cảm giác và suy nghĩ được với những gì trẻ cảm nhận và ứng xử.

Phương pháp động não khi sử dụng đối với trẻ mầm non thì giáo viên nên hướng dẫn trẻ cách trả lời những câu hỏi ngắn, có khi chỉ cần một từ. Tất cả ý kiến của trẻ đều cần được giáo viên khích lệ, thừa nhận. Đặc biệt, không phê phán các câu trả lời của trẻ và luôn khen ngợi trẻ đúng lúc. Cuối giờ thảo luận cần nhấn mạnh kết quả có được là thành quả của cả nhóm hoặc của tất cả các thành viên trong nhóm.

Làm thế nào để vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy học theo Dự án? Đây là một phương pháp dạy học rất có ý nghĩa đối với trẻ, tuy nhiên trong thực tế thì phương pháp này ít được giáo viên sử dụng. Các dự án thường xuất hiện từ các câu hỏi của trẻ. Dự án được thực hiện bởi một trẻ hoặc một nhóm trẻ em (4-6 thành viên) để trải nghiệm và khám phá các vấn đề, câu hỏi, vấn đề và thách thức có liên quan. Thời gian thực hiện dự án thường phải mất vài tuần để hoàn thành – và đôi khi lâu hơn nữa, tùy thuộc vào độ tuổi và sở thích của trẻ. Phương pháp dạy học theo Dự án được tổ chức thành 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Thử hứng thú của trẻ

Ngay từ khi bắt đầu dự án, giáo viên quan tâm đến chủ đề thông qua việc khuyến khích trẻ chia sẻ những câu chuyện cá nhân có liên quan. Khi trẻ có hiểu biết hiện tại về chủ đề nào đó, từ đó giáo viên đánh giá xem mức độ hiểu biết của trẻ như thế nào và giúp trẻ xây dựng các câu hỏi mà trẻ có thể tìm hiểu.

+ Giai đoạn 2: Hoạt động khám phá

Cho phép trẻ đi thực địa, phỏng vấn những người trưởng thành, những nhà chuyên môn giỏi. Trẻ em có thể xem sách, mạng Internet qua sự hỗ trợ của người lớn, Video… Sau đó trẻ sử dụng nhiều hình thức để minh họa những gì trẻ đã học được và chia sẻ kiến ​​thức mới với bạn.

+ Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả và những điều trẻ đã học được

Giáo viên hướng dẫn kết luận và giúp trẻ xem lại thành quả của mình. Trẻ chia sẻ công việc của mình với cha mẹ, với một lớp học khác. Đánh giá của giáo viên về những gì trẻ đã học được thông qua dự án. Sau đó trẻ tạo ra các bài thuyết trình và sản phẩm để chia sẻ những gì trẻ đã nghiên cứu, tìm hiểu. Kết thúc dự án sẽ cho ra sản phẩm như là: Poster, mô hình, bài báo cáo, vật thật, …

Như vậy, các phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non không phải là một phương pháp hoàn toàn mới, mà chính là sự kế thừa và phát huy tối đa những ưu điểm và khả năng có sẵn của các phương pháp dạy học truyền thống. Việc sử dụng và phối hợp một cách khéo léo, hợp lý các phương pháp dạy học khác nhau sẽ phát huy tính tích cực và sự hợp tác của đứa trẻ. Tùy thuộc vào đặc điểm tiếp nhận kiến thức của trẻ mà giáo viên lựa chọn phương pháp tiếp cận cho phù hợp. Để thực hiện tốt các phương pháp dạy học tích cực thì giáo viên phải được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về nội dung này, thường xuyên rèn luyện cho mình kỹ năng ứng xử các tình huống sư phạm thật tinh tế và linh hoạt, sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại, biết định hướng sự phát triển của trẻ theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo sự tự do của trẻ trong các hoạt động giáo dục khác./

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 4
  • Mẫu kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2019-2020
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 5

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button