Là Ai

Alizée – Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Alizée - Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Alizée trong một chương trình hòa nhạc thính phòng

Giọng ca và phong cách của Alizée lần đầu tiên được nữ danh ca Mylène Farmer phát hiện ra khi cô mới 15 tuổi nhưng đã giành chiến thắng trong cuộc thi hát tài năng “Hạt mầm của những ngôi sao” (Graines de Stars) năm 1999 của kênh truyền hình Pháp. Và ngay lập tức, Mylène Farmer đã viết lời hát cùng với nhà soạn nhạc Laurent Boutonnat để phát hành 2 album cho Alizée có tựa là “Gourmandises” và “Mes courants électriques”.

Nữ ca sĩ Alizée tên thật là Alizée Jacotey, đến từ quận Ajaccio thuộc đảo Corse của nước Pháp. Alizée bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình từ năm 2000 với album “Gourmandises”. Và bài hát thành công nhất của cô trong album này có tên là “Moi… Lolita” đã được xếp hạng nhất ở một vài quốc gia châu Âu và Đông Á. Chiến dịch thương mại xây dựng hình ảnh cho cô được dựa trên nhân vật Lolita trong văn học nước Nga.

Kế đó là sự ra đời của album thứ hai “Mes courants électriques”. Trong mùa thu năm 2003, sự thành công của 2 album cùng với tất cả 43 lượt lưu diễn xuyên suốt nước Pháp, rồi đến nước Bỉ và cả Thụy Sĩ đã đưa Alizée trở thành nữ ca sĩ người Pháp ăn khách nhất lúc bấy giờ.

Cuối năm 2003, Alizee kết hôn với ca sĩ người Pháp Jérémy Chatelain, sau đó cô tạm ngưng hoạt động âm nhạc. Chỉ sau gần 2 năm vắng bóng, cô trở lại với album phòng thu tiếp theo mang tên “5”. Và với chiến dịch quảng bá liên tục, hai đĩa đơn “À cause de” và “Je veux bien” trong album này đã nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí cao trên các bảng xếp hạng của nhiều nước ngay sau khi ra mắt.

Alizée - Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Alizee thể hiện ca khúc “J’en Ai Marre”

Cũng ngay sau khi quay trở lại vào năm 2005, Alizée đã kết hợp ngắn hạn với ban nhạc pop rock Indochine trong chuyến lưu diễn của cô. Và album ghi lại chuyến lưu diễn ấy có tên là “En concert”. Nhưng có lẽ điều này không phải là điểm nhấn trong sự nghiệp ca hát của Alizée, mà sự trở lại được nhấn mạnh vào tháng 12/2007 với album thứ 3 mang tên là “Psychédélices”. Album này đã cho ra 2 đĩa đơn nổi tiếng là “Mademoiselle Juliette” và “Fifty-Sixty”. Nhờ vậy mà từ năm 2007 đến 2009, ca sĩ Alizée đã được công nhận là thành công vượt bậc với album “Psychédélices”.

Và trong tour lưu diễn ở Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là ở Mexico cũng vào thời gian này, Alizée đã có thêm 1 album rất thành công và chỉ phát hành duy nhất ở Mexico mang tên “Tout Alizée”. Ngoài ra, Alizée còn phát hành các album mang tên “Une enfant du siècle” (năm 2010); “Blonde” (năm 2014).

Bắt đầu từ ngày 28/9/2013, Alizée đã tham gia Show truyền hình Danse avec les Stars phiên bản Pháp của game show quen thuộc mà chúng ta biết đến với tên gọi Bước nhảy hoàn vũ. Alizée đã giành chiến thắng vào ngày 23/11/2013. Sau chiến thắng này, Alizée đã tiến hành nhiều tour lưu diễn “Bước nhảy hoàn vũ” của mình liên tục cho đến năm 2017.

Alizée - Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Hình ảnh của Alizée trong album thứ 3 mang tên “Psychédélices”

“Gourmandises” – (Những món ngon)

Album đầu tiên cùng tên với bài hát “Gourmandises” được phát hành năm 2000 đã đem về cho ca sĩ Alizée đĩa Chứng chỉ RIAA (Bạch kim) chỉ trong ba tháng. Album đã bán được hơn 2 triệu bản trên toàn thế giới. Bài hát mô tả sự hấp dẫn về ngoại hình trong sáng nhưng rất quyến rũ của một cô gái khiến cho người yêu của cô luôn cảm thấy anh như một con sói trên thảo nguyên. Trong đời anh, từ những nụ hôn vụng trộm ngọt ngào đến những nụ hôn nóng bỏng nồng nàn như mùa hạ đều chẳng còn sức hấp dẫn nữa. Anh chỉ còn khao khát những nụ hôn của Alizée, chúng như những món ngon khi người ta quá đói khát.

“J’ai pas vingt ans” – (Tôi chưa tới 20 tuổi)

Bài hát “J’ai pas vingt ans” kể lại tâm sự của một cô gái chưa được 20 tuổi. Trong ý nghĩ của cô, khi vào tuổi 20 thì coi như đã già rồi. Cô chưa đến 20 tuổi, cô không muốn phải thỏa hiệp với cuộc sống về những gì gọi là tình yêu vĩnh cửu dẫn lối đến thiên đường. Cô không muốn gắn kết với nhiều thói quen, nhiều định kiến mà người ta thường mắc phải! Cô không muốn những thứ gọi là liều lĩnh táo bạo hay những gì tương tự như kiểu nỗ lực hết mình! Và cô chẳng hề muốn những điều ấy quấy nhiễu cô, phá hỏng những khoảnh khắc mơ mộng của lòng mình.

Đây cũng là đĩa đơn thứ 6 trích từ album “Mes Courants Électriques” của Alizée đã được phát hành vào năm 2003. Đĩa đơn này đã có mặt trong Top 3 các bảng xếp hạng ở Ba Lan, nằm trong Top 20 ở Pháp và Bỉ.

Alizée - Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Alizée luôn làm hài lòng các fan bởi tài năng rất riêng của mình

“À contre-courant” – (Ngược dòng)

“À contre-courant” là đĩa đơn thứ 7 của album “Mes Courants Électriques” kể lại tâm sự rối bời của một cô gái. Vũ trụ riêng của cô và người yêu đang lội ngược dòng thời gian, sự ngược chiều trong tâm hồn và nỗi cô đơn tẻ nhạt khi xa rời nhau khiến cô không thể đoán trước được cú sốc tinh thần này. Cảm giác từ trường trong người mình như bị nam châm điện hút sạch khiến cô hoang mang khó tả, chẳng có chổ để bám víu, chẳng có được sự tĩnh lặng nào.

La Isla Bonita – (Hòn đảo xinh đẹp)

“La Isla Bonita” là một bài hát của ca sĩ và nhạc sĩ người Mỹ Madona. Lời của bài hát này nói về một hòn đảo rất xinh đẹp và tôn vinh vẻ đẹp của con người “Psychédélices” Latin. Ca khúc này sau đó được ca sĩ Alizee cover lại và nằm trong album thứ ba của cô.

Alizée - Ngọn gió tươi vui từ đảo Corse | Điện Ảnh 24G

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button